Chùa Quán Sứ trên phố Quán Sứ, giữa trung tâm Hà Nội, mang tên một nhà khách: theo tư liệu của chùa, thời Lê ở đây có "quán sứ" — nhà dành đón tiếp sứ thần các nước láng giềng — và một ngôi chùa nhỏ được dựng bên cạnh. Ngôi chùa ta thấy hôm nay lại là công trình xây mới vào khoảng cuối thập niên 1930 – đầu thập niên 1940, khi chùa trở thành trụ sở của hội Phật giáo ở Bắc Kỳ; nay là trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Vì thế Quán Sứ là ví dụ hiếm của một ngôi chùa có tên rất cũ nhưng kiến trúc thuộc thế kỷ 20, đứng giữa phố chứ không giữa làng.
Quán Sứ nghĩa là gì
"Quán" là nhà trọ, nhà khách; "sứ" là sứ thần. Quán Sứ là nhà khách dành cho sứ thần. Tư liệu của chùa và các sách về Hà Nội thường kể: thời Lê, triều đình đặt ở khu này một nơi để sứ thần các nước phía nam và phía tây như Chiêm Thành, Ai Lao nghỉ lại khi đến Thăng Long. Vì sứ thần nhiều nước theo đạo Phật, một ngôi chùa nhỏ được dựng cạnh quán để họ lễ bái.
Đây là cách giải thích phổ biến nhất, nhưng không có nhiều văn bản gốc thời Lê mô tả chi tiết quán và chùa. Nên hiểu như truyền thống của chùa, phần cốt lõi (khu vực có nhà khách cho sứ thần) đáng tin hơn các chi tiết kể thêm. Về sau, khi quán không còn, chùa ở lại và trở thành chùa của dân cư quanh đó; tài liệu thường nhắc chùa thuộc thôn An Tập cũ. Con phố trước cửa chùa sau này mang tên Quán Sứ.
Ba lớp lịch sử trong một cái tên
| Lớp | Thời gian | Chùa là gì |
|---|---|---|
| Nhà khách sứ thần | Thời Lê (theo truyền thống của chùa) | Ngôi chùa nhỏ cạnh quán, phục vụ sứ thần |
| Chùa làng giữa kinh thành | Sau khi quán không còn, kéo dài tới đầu thế kỷ 20 | Chùa của dân cư quanh vùng, quy mô vừa phải |
| Trụ sở hội Phật giáo | Từ thập niên 1930 | Chùa được xây lại lớn, làm trung tâm hoạt động Phật giáo của miền Bắc |
Lớp thứ ba gắn với phong trào chấn hưng Phật giáo những năm 1920 – 1930, khi các hội Phật học được lập ở cả ba miền. Ở Bắc Kỳ, hội Phật giáo chọn chùa Quán Sứ làm trụ sở, và quyết định xây lại chùa cho xứng với vai trò mới. Phong trào chấn hưng là đề tài riêng; ở đây chỉ cần biết nó là lý do ngôi chùa có hình hài như hôm nay.
Kiến trúc thập niên 1940: chùa truyền thống bằng tay nghề mới
Theo tư liệu của chùa, công trình được xây trong khoảng cuối thập niên 1930 đến đầu thập niên 1940, do kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn thiết kế. Đó là thời Hà Nội đã có nhiều công trình kiểu Pháp, người Việt đã học kiến trúc ở trường hiện đại. Câu hỏi của người thiết kế là: làm sao dựng một ngôi chùa lớn giữa phố, đủ chỗ cho hội họp đông người, mà vẫn là một ngôi chùa Việt?
Những gì giữ lại từ chùa truyền thống
- Mái ngói hai tầng với đầu đao cong ở các góc, nhìn từ phố đã biết là chùa.
- Hàng cột và cửa bức bàn (cửa gỗ nhiều cánh ghép, tháo mở được) ở mặt tiền, tạo hiên trước như chùa làng.
- Hệ thờ tự theo lối chùa Bắc Bộ: các lớp tượng Phật xếp từ cao xuống thấp, có nhà Tổ phía sau.
Những gì khác hẳn
- Nền cao, bậc lên: toà chính đặt trên nền cao, người vào phải đi lên bậc. Chùa làng xưa thường thấp, sát đất.
- Không gian bên trong rộng, sáng: cần chỗ cho đông người dự lễ, nghe giảng. Không còn cái tối dần qua ba lớp tiền đường – thiêu hương – thượng điện như chùa cổ.
- Khối nhà gọn trên đất phố: không có sân rộng, ao hồ, vườn tháp; tất cả thu vào một khuôn đất giữa các dãy nhà.
- Vật liệu và kỹ thuật của thời mới: công trình kết hợp kỹ thuật xây dựng đương thời với hình thức chùa truyền thống, nhờ đó vượt được khẩu độ lớn hơn chùa gỗ.
Các nhà nghiên cứu kiến trúc thường xếp Quán Sứ vào nhóm công trình thể hiện xu hướng tìm "bản sắc Việt" trong kiến trúc Hà Nội những năm 1930 – 1940, khi các kiến trúc sư người Việt đưa mái cong, cột gỗ, hoa văn truyền thống vào công trình xây mới.
Đọc chùa Quán Sứ từ ngoài vào
- Đứng bên kia phố: nhìn cả mặt tiền với tam quan, nền cao và hai tầng mái. Đây là góc duy nhất thấy được toàn khối, vì chùa nằm sát các nhà xung quanh.
- Qua tam quan vào sân: sân hẹp, khác hẳn sân chùa làng. Để ý cách sân nối thẳng với bậc lên chính điện.
- Lên bậc vào chính điện: chú ý độ cao trần và lượng ánh sáng, so với các chùa cổ đã từng đến.
- Nhìn hệ tượng: các lớp tượng Phật vẫn xếp theo trật tự chùa Bắc Bộ, từ Tam Thế ở trên cùng xuống.
- Ra phía sau: nhà Tổ và các dãy nhà làm việc, nhà học. Chùa giữ vai trò trung tâm hành chính và giáo dục chứ không chỉ là nơi lễ bái.
Chùa giữa phố: một kiểu chùa khác
Hà Nội có nhiều chùa nằm giữa phố, nhưng phần lớn là chùa làng cũ bị đô thị bao quanh: chùa nhỏ, nằm lọt trong ngõ. Quán Sứ thì ngược lại: được thiết kế ngay từ đầu cho phố, cho đông người, cho hoạt động của một tổ chức. Đây là kiểu chùa mà thế kỷ 20 sinh ra, và về sau nhiều chùa lớn ở các đô thị cũng đi theo hướng này: nền cao, mái cong, không gian lớn bên trong.
So với các chùa cổ gần đó như Trấn Quốc bên Hồ Tây hay chùa Một Cột, Quán Sứ không cổ bằng, nhưng là mốc quan trọng để hiểu chùa Việt đã thay đổi thế nào khi bước vào đời sống đô thị hiện đại.
Góc nhìn hôm nay: đến Quán Sứ thế nào
- Giờ đến: ngày rằm, mùng một rất đông người lễ; ngày thường buổi sáng yên hơn, dễ xem kiến trúc.
- Trang phục, ứng xử: chùa là nơi sinh hoạt tôn giáo và làm việc thường ngày, không phải điểm tham quan thuần tuý. Ăn mặc kín đáo, nói nhỏ, không vào khu làm việc.
- Đi bộ ghép tuyến: từ Quán Sứ có thể đi bộ ra khu Văn Miếu hoặc phố cổ trong vòng một buổi.
- Đọc thêm: các khảo cứu về kiến trúc Hà Nội thời Pháp thuộc có phần về xu hướng kiến trúc dân tộc, trong đó nhắc Quán Sứ; và phần về phong trào chấn hưng trong Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang.
Câu hỏi thường gặp
Chùa Quán Sứ ở đâu?
Chùa Quán Sứ nằm trên phố Quán Sứ, ở trung tâm Hà Nội, gần ga Hà Nội và khu Văn Miếu. Đây hiện là trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Vì sao gọi là chùa Quán Sứ?
Theo tư liệu của chùa, thời Lê khu vực này có quán sứ, tức nhà khách đón sứ thần các nước như Chiêm Thành, Ai Lao. Một ngôi chùa được dựng bên cạnh cho sứ thần lễ Phật, và tên quán thành tên chùa.
Chùa Quán Sứ xây năm nào?
Chùa có từ lâu, theo truyền thống từ thời Lê. Toà chùa hiện nay được xây lại khoảng cuối thập niên 1930 đến đầu thập niên 1940, khi chùa làm trụ sở hội Phật giáo Bắc Kỳ.
Ai thiết kế chùa Quán Sứ?
Theo tư liệu của chùa, toà chùa hiện nay do kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn thiết kế. Công trình được coi là một ví dụ về xu hướng tìm bản sắc Việt trong kiến trúc Hà Nội những năm 1930 – 1940.
Chùa Quán Sứ khác chùa cổ ở điểm nào?
Chùa đặt trên nền cao, không gian bên trong rộng và sáng để đông người dự lễ, nằm gọn trên đất phố, không có sân rộng hay vườn tháp. Hình thức mái cong, cửa bức bàn, hệ tượng vẫn giữ theo chùa Bắc Bộ.