Người Nam Bộ gọi miếu, hội quán là "chùa" vì trong tiếng nói dân gian phương Nam, "chùa" từ lâu đã là tên gọi chung cho mọi nơi thờ tự có nhang khói và mái cong, không riêng nơi thờ Phật. Vì thế mới có chùa Ông (thờ Quan Công), chùa Bà (thờ Thiên Hậu hay các nữ thần), chùa Ông Bổn, trong khi bảng chữ trên cổng lại ghi "miếu" hay "hội quán". Hiểu cách gọi này, người đi xem sẽ không nhầm một hội quán người Hoa với một ngôi chùa Phật giáo, và biết tìm đúng chữ trên cổng để biết mình đang đứng ở đâu.
Một chữ, hai nghĩa
Ở Bắc Bộ, "chùa" thường được dùng khá chặt: nơi thờ Phật, có sư hoặc người giữ chùa; còn thờ thần làng là đình, thờ thánh hay nhân vật lịch sử là đền, thờ Mẫu là phủ, nơi thờ nhỏ là miếu. Người miền Bắc nghe "chùa Bà" có khi tưởng là chùa có điện Mẫu.
Ở Nam Bộ, bên cạnh nghĩa hẹp ấy, "chùa" còn có một nghĩa rộng trong lời ăn tiếng nói: chỗ nào có ban thờ, có nhang khói, có mái ngói cong và không phải nhà ở thì dễ được gọi là chùa. Hai nghĩa sống song song. Người miền Tây nói "đi chùa Ông" là hiểu ngay đó là miếu Quan Đế, không ai nghĩ đó là chùa Phật.
Nguồn gốc của chữ "chùa" trong tiếng Việt còn được các nhà ngôn ngữ học bàn, có giả thuyết liên hệ với từ chỉ tháp Phật. Nhưng cách dùng mở rộng ở Nam Bộ không cần giải thích bằng từ nguyên; nó là chuyện của đời sống.
Vì sao nghĩa rộng lại mạnh ở Nam Bộ
Vùng đất của nhiều cộng đồng
Khi lưu dân Việt vào Nam thế kỷ 17–18, họ gặp người Khmer với chùa Nam tông, người Hoa với miếu và hội quán, người Chăm với thánh đường. Người Việt cần một chữ để gọi những nơi thờ tự lạ mắt ấy; chữ quen thuộc nhất, gần nhất với "nơi thờ có mái cong" là "chùa". Ngay chùa Khmer cũng được người Việt gọi là chùa, và lần này thì đúng nghĩa hẹp vì đó là chùa Phật giáo.
Tín ngưỡng dung hợp
Nhiều chùa Phật giáo Nam Bộ có ban thờ Quan Công, Ngọc Hoàng, Thần Tài, Ông Địa; ngược lại nhiều miếu người Hoa có ban thờ Quan Âm, Phật. Ranh giới giữa "chùa" và "miếu" trong thực hành vốn đã mờ, nên ranh giới trong lời nói cũng mờ theo.
Cách gọi thân mật
Người Nam Bộ thích gọi theo vị được thờ: "Ông", "Bà" là cách xưng hô tôn kính mà gần gũi. "Chùa Ông" dễ nói hơn "Quan Thánh Đế Quân miếu"; "chùa Bà" dễ nói hơn "Thiên Hậu cung". Tên chữ Hán viết trên cổng, tên Nôm nói ngoài chợ.
Lớp tiếng Pháp
Thời Pháp thuộc, người Pháp gọi chung mọi nơi thờ tự châu Á là pagode, từ chùa Phật đến miếu người Hoa. Bản đồ, sách hướng dẫn, bưu ảnh thời ấy ghi "pagode" cho tất cả, càng làm cách gọi chung thêm vững.
Một bộ tên gọi cần biết
| Dân gian gọi | Thật ra là | Thờ chính | Ví dụ quen thuộc |
|---|---|---|---|
| Chùa Ông | Miếu Quan Đế hoặc hội quán người Hoa | Quan Công (Quan Vũ) | Nghĩa An hội quán (Chợ Lớn); Thất Phủ Quan Đế miếu ở cù lao Phố (Biên Hoà); Quảng Triệu hội quán ở Cần Thơ |
| Chùa Bà | Miếu, cung thờ nữ thần | Thiên Hậu hoặc các Bà theo tín ngưỡng địa phương | Tuệ Thành hội quán (Chợ Lớn); phần tín ngưỡng thờ Bà thuộc site riêng trong hệ |
| Chùa Ông Bổn | Miếu người Hoa | Ông Bổn, thần bảo hộ cộng đồng | Nhị Phủ miếu (Chợ Lớn) |
| Chùa Quan Âm | Hội quán | Quan Âm Bồ Tát | Ôn Lăng hội quán (Chợ Lớn) |
| Chùa Ngọc Hoàng | Điện thờ Đạo giáo, nay sinh hoạt Phật giáo | Ngọc Hoàng Thượng Đế | Phước Hải tự (Đa Kao, TP.HCM) |
| Chùa Miên, chùa Khmer | Chùa Phật giáo Nam tông | Đức Phật Thích Ca | Chùa Dơi, chùa Âng, chùa Kh'leang |
Chùa Ông ở cù lao Phố (Biên Hoà, Đồng Nai) tương truyền có từ cuối thế kỷ 17, khi nhóm người Hoa theo Trần Thượng Xuyên vào lập phố buôn ở đây; chùa Ông ở Cần Thơ do người Hoa gốc Quảng Đông dựng cuối thế kỷ 19 bên bờ sông. Năm cụ thể nên đối chiếu tư liệu của ban quản lý di tích địa phương.
Đứng trước cổng, làm sao biết đây là gì
Không cần đọc thạo chữ Hán, chỉ cần nhận ra vài chữ trên bảng hiệu cổng và xem vài dấu hiệu.
- Chữ cuối của tên trên cổng: 寺 (tự) là chùa Phật; 廟 (miếu) là miếu; 會館 (hội quán) là nhà chung của bang; 宮 (cung) hay 殿 (điện) thường là nơi thờ thần, thờ Bà; 亭 (đình) là đình làng.
- Người coi sóc: chùa Phật có tăng ni mặc áo nâu, vàng, lam; hội quán, miếu do ban trị sự hoặc người giữ miếu mặc thường phục coi sóc.
- Ban thờ chính: tượng Phật ở trung tâm hay một vị thần mặc triều phục, võ phục.
- Mái: hội quán người Hoa thường gắn dãy tượng gốm men màu trên bờ nóc; chùa Việt Nam Bộ mái ngói đơn giản hơn; chùa Khmer mái nhọn nhiều cấp, đầu mái có rắn Naga.
- Nhang khoanh: những vòng nhang lớn treo từ trần là dấu hiệu rất đặc trưng của miếu, hội quán người Hoa.
Năm dấu hiệu này đủ để không gọi nhầm khi viết blog, khi dẫn đoàn hay khi giải thích cho trẻ con.
Cách gọi có sai không
Không. Cách gọi dân gian không "sai", nó chỉ khác hệ quy chiếu. Người làng gọi đúng theo kinh nghiệm của họ: nơi có nhang khói là chùa. Vấn đề chỉ xuất hiện khi chuyển cách gọi ấy vào văn bản chính thức, bài nghiên cứu, bảng chỉ dẫn du lịch, nơi người đọc ở vùng khác sẽ hiểu theo nghĩa hẹp.
Lời khuyên cho người viết: dùng tên chính thức trước, tên dân gian sau trong ngoặc. Ví dụ "Nghĩa An hội quán (chùa Ông)", "Ôn Lăng hội quán (chùa Quan Âm)". Như vậy vừa tôn trọng cách gọi của người địa phương, vừa không làm người đọc hiểu nhầm đó là chùa Phật.
Chữ "chùa" trong địa danh Nam Bộ
Cách gọi rộng còn để lại dấu trong địa danh: nhiều nơi có tên "xóm Chùa", "rạch Chùa", "gò Chùa" mà ngôi "chùa" gốc có khi là một miếu, có khi là chùa Khmer đã mất. Khi gặp địa danh như vậy, đừng vội kết luận ở đó từng có chùa Phật; hãy tìm thêm tư liệu địa phương hoặc hỏi người già trong xóm.
Ngay ở TP.HCM, chùa Phụng Sơn được gọi là chùa Gò vì dựng trên gò; ngược lại có những "gò Chùa" ở miền Tây lại gắn với dấu tích cư trú cổ hay chùa Khmer xưa. Mỗi tên một câu chuyện cần kiểm.
Góc nhìn hôm nay
Một bài tập nhỏ cho chuyến đi Chợ Lớn hay miền Tây: mỗi nơi gọi là "chùa" mà bạn ghé, chụp lại bảng chữ trên cổng (nếu được phép), về tra chữ cuối của tên. Sau năm nơi, bạn sẽ tự phân biệt được tự, miếu, hội quán, cung bằng mắt.
Đọc thêm: Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức ghi nhiều miếu, chùa của Gia Định đầu thế kỷ 19 bằng đúng tên chữ; các sách của Sơn Nam về đình, chùa, miếu Nam Bộ cho thấy cách người miền Nam nói về nơi thờ tự; các bài trong danh mục này về hội quán Chợ Lớn và tịnh xá Khất sĩ.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao người miền Nam gọi miếu là chùa?
Trong lời nói dân gian Nam Bộ, "chùa" là tên gọi chung cho mọi nơi thờ có nhang khói và mái cong, không riêng nơi thờ Phật. Cách gọi này hình thành ở vùng đất có nhiều cộng đồng và tín ngưỡng đan xen, nơi ranh giới chùa – miếu vốn đã mờ.
Chùa Ông là chùa gì?
Chùa Ông là cách gọi dân gian của miếu hoặc hội quán người Hoa thờ Quan Công. Ví dụ quen thuộc là Nghĩa An hội quán ở Chợ Lớn, Thất Phủ Quan Đế miếu ở cù lao Phố Biên Hoà và Quảng Triệu hội quán ở Cần Thơ.
Chùa Bà là chùa gì?
Chùa Bà là cách gọi các miếu, cung thờ nữ thần, phổ biến nhất là Thiên Hậu của người Hoa hoặc các Bà theo tín ngưỡng địa phương. Đây không phải chùa Phật giáo theo nghĩa hẹp.
Làm sao phân biệt chùa và miếu khi đi tham quan?
Nhìn chữ cuối của tên trên cổng: tự là chùa, miếu là miếu, hội quán là nhà chung của bang người Hoa. Thêm vào đó, chùa Phật có tăng ni, ban thờ chính là tượng Phật; miếu và hội quán do ban trị sự coi sóc, thờ thần và thường treo nhang khoanh.
Người Pháp gọi chùa là gì?
Thời Pháp thuộc, người Pháp dùng chữ pagode để gọi chung mọi nơi thờ tự châu Á, từ chùa Phật đến miếu người Hoa. Cách gọi này trên bản đồ và bưu ảnh cũ góp phần làm nghĩa rộng của chữ "chùa" thêm phổ biến.