Vườn tháp chùa Bổ Đà là nghĩa trang tăng ni lớn nhất còn lại ở miền Bắc, nằm trong quần thể chùa Bổ Đà (tên chữ Tứ Ân tự) dưới núi Bổ Đà, vùng Việt Yên của Bắc Giang cũ, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Theo các giới thiệu thường gặp, khu này có gần trăm ngọn tháp lớn nhỏ cùng hơn một nghìn ngôi mộ của các thế hệ tăng ni, tất cả nằm trong vòng tường đất bao quanh chùa. Đến đây là để thấy một sơn môn lớn hiện ra qua chính nơi an nghỉ của nó.
Tên Bổ Đà từ đâu ra
"Bổ Đà" là cách đọc Hán Việt của Potalaka, tên ngọn núi nơi Bồ tát Quán Thế Âm cư ngụ theo kinh điển Đại thừa. Trung Hoa có núi Phổ Đà ở Chiết Giang lấy tên theo cùng gốc. Đặt tên núi, tên chùa là Bổ Đà, người xưa muốn nói nơi này là một cõi Quan Âm giữa vùng đồi Kinh Bắc. Tên chữ Tứ Ân tự (chùa Bốn Ân) lại gợi tới bốn ân lớn (tứ ân) mà nhà Phật dạy phải đền đáp; cách giảng quen thuộc ở chùa Việt là ân cha mẹ, ân thầy dạy, ân đất nước và ân thí chủ, còn kinh điển có nơi kể khác.
Người địa phương quen gọi theo tên núi hơn tên chữ. Khi tra sách, bia hoặc tư liệu Hán Nôm, nên tìm cả hai tên.
Lịch sử: từ ngôi chùa trên núi đến một sơn môn lớn
Theo tư liệu của chùa và lời kể địa phương, chùa Bổ Đà có từ thời Lý. Tuy nhiên, phần kiến trúc và di vật còn lại hôm nay chủ yếu thuộc giai đoạn thời Lê và thời Nguyễn, khoảng thế kỷ 17 đến 19. Đây là thời kỳ chùa phát triển thành trung tâm của một sơn môn lớn ở xứ Kinh Bắc, có nhiều chùa con, đào tạo nhiều thế hệ tăng ni và khắc in kinh sách. Kho mộc bản của chùa là một chứng cứ của vai trò này.
Chính vì là tổ đình của cả một sơn môn, Bổ Đà mới có vườn tháp lớn như vậy: không chỉ sư trụ trì chùa này mà tăng ni ở các chùa thuộc sơn môn cũng được đưa về an táng tại đây. Một vườn tháp đông đúc là dấu vết của một mạng lưới tu viện, không chỉ của một ngôi chùa.
Năm lập chùa và tên các vị tổ đầu tiên, các nguồn ghi chưa thống nhất. Muốn tìm hiểu kỹ, nên đối chiếu văn bia tại chùa với tư liệu của ban quản lý di tích tỉnh và Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang.
Tường đất: thứ khiến Bổ Đà khác mọi chùa Bắc Bộ
Chùa Bắc Bộ thường có tường gạch hoặc tường đá ong, hoặc chỉ có hàng rào cây. Bổ Đà được bao quanh bởi tường đất: đất đồi đắp và nện chặt thành lớp dày, mặt tường thô, màu vàng nâu, đỉnh tường có mái che nhỏ để mưa không xói. Theo các mô tả về chùa, không chỉ tường bao mà một số công trình bên trong cũng có tường đất nện.
Lý do dùng đất được giải thích theo nhiều cách: vật liệu có sẵn ở vùng đồi, rẻ, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, và phù hợp với nếp sống giản dị của chốn thiền. Dù lý do là gì, kết quả là một không gian rất riêng: đi dọc tường đất, nghe tiếng chân trên lối đất, cảm giác như đi trong một làng cổ hơn là một công trình tôn giáo lớn.
Tường đất cũng là thứ mong manh nhất. Mưa lớn và độ ẩm làm tường sụt từng đoạn; nhiều đoạn đã được tu bổ, có đoạn làm lại hẳn. Nhìn kỹ có thể thấy chỗ tường cũ và chỗ mới đắp khác màu, khác độ thô.
Vườn tháp: đi một vòng xem gì
Hình dáng tháp
Phần lớn tháp ở Bổ Đà là tháp gạch nung, mặt bằng vuông, cao từ hai đến năm tầng, trát vôi. Thời gian đã làm lớp vôi bạc màu, rêu xanh phủ chân tháp, cây cỏ mọc ở các gờ tầng. Tháp lớn hơn có khám ở tầng một, khắc tên tháp và tên vị sư; tháp nhỏ hoặc mộ thường chỉ có bia nhỏ hoặc không còn chữ đọc được.
Những điểm nên tìm
- Tháp lớn nhất và nằm ở vị trí trang trọng nhất. Theo quy luật chung của vườn tháp, đó thường là tháp tổ. Đọc tháp hiệu trên khám.
- Chữ đầu pháp danh trên các tháp gần nhau. Nếu nhiều tháp chung một chữ đầu, đó có thể là những vị đồng đời trong cùng dòng truyền thừa.
- Lạc khoản niên hiệu. Chụp lại những dòng ghi niên hiệu (Cảnh Hưng, Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức...) để biết tháp dựng khoảng năm nào. Một vòng như vậy cho bạn hình dung được vườn tháp hình thành qua bao nhiêu thế kỷ.
- Sự khác nhau giữa tháp cũ và tháp tu bổ. Vữa vôi cũ mềm, xám, có rêu; vữa xi măng mới cứng, trắng xám đều.
- Đoạn tường đất cổ nhất. Hỏi người trong chùa đoạn nào còn giữ nguyên lớp cũ.
Không khí
Vườn tháp Bổ Đà đẹp nhất khi vắng người: sáng sớm có sương, ánh nắng xiên qua vườn cây chiếu lên những mái tháp rêu. Mùa hè cây lá rậm, ẩm; mùa thu và đầu đông khô ráo, dễ đi và dễ đọc chữ trên tháp nhất.
Các phần khác của chùa nên kết hợp
- Toà chùa chính: đi theo trình tự tiền đường, thiêu hương, thượng điện, xem cách bày tượng và hoành phi câu đối.
- Nhà Tổ: nơi thờ các vị tổ, đối chiếu với các tháp vừa xem ngoài vườn.
- Kho mộc bản: chùa còn giữ một kho ván khắc kinh lớn; việc xem tận mắt tuỳ quy định của chùa, nên hỏi trước.
Trên cùng địa bàn tỉnh Bắc Ninh mới còn chùa Vĩnh Nghiêm, cũng nổi tiếng với kho mộc bản; có thể ghép hai chùa trong một chuyến để so sánh hai trung tâm Phật giáo của vùng Kinh Bắc xưa.
Đi Bổ Đà: lịch trình và thời điểm
| Việc | Gợi ý |
|---|---|
| Khoảng cách | Khoảng 50 km từ trung tâm Hà Nội, đi theo hướng Bắc Giang cũ |
| Thời gian ở lại | Tối thiểu hai giờ nếu muốn đi hết vườn tháp và đọc vài khám tháp |
| Giờ nên đến | Sáng sớm hoặc chiều muộn, nắng xiên làm rõ nét chữ khắc |
| Mùa nên đến | Thu và đầu đông khô ráo; mùa xuân có hội chùa nhưng đông |
| Hội chùa | Vào mùa xuân âm lịch; ngày chính nên hỏi ban quản lý di tích |
| Mang theo | Giày đi bộ, áo dài tay, thuốc chống muỗi, sổ ghi chép |
Ngoài mùa hội, chùa khá yên tĩnh. Đây là chốn tu tập có tăng ni đang sinh hoạt; vào khu nhà tăng hoặc vườn tháp sau chùa nên xin phép, nói khẽ, không đi vào những lối có biển hạn chế.
Góc nhìn hôm nay: một vườn tháp cần được ghi chép
Hơn một nghìn ngôi mộ và gần trăm ngọn tháp gạch vữa vôi là một khối di sản lớn và dễ tổn thương. Mỗi mùa mưa lại có tháp nứt, tường đất sụt. Giá trị của Bổ Đà không nằm ở một tháp nổi bật nào mà ở cả quần thể: nó cho thấy một sơn môn thời Lê – Nguyễn tổ chức, truyền thừa và tưởng nhớ người đi trước như thế nào. Người đến thăm góp phần giữ di tích bằng những việc rất nhỏ: không chạm vào tháp, không mang gì ra khỏi vườn, và nếu có ảnh chụp văn khắc rõ nét thì gửi lại cho chùa hoặc ban quản lý như một bản lưu.
Câu hỏi thường gặp
Chùa Bổ Đà ở đâu?
Chùa Bổ Đà nằm dưới núi Bổ Đà, vùng Việt Yên của tỉnh Bắc Giang cũ, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh sau đợt sắp xếp địa giới năm 2025. Từ trung tâm Hà Nội đi khoảng 50 km.
Vườn tháp chùa Bổ Đà có bao nhiêu tháp?
Các giới thiệu thường nêu gần trăm ngọn tháp lớn nhỏ cùng hơn một nghìn ngôi mộ của tăng ni, nằm trong vòng tường đất của chùa. Con số chính xác mỗi nguồn ghi một khác, nên coi đây là con số ước lượng.
Vì sao chùa Bổ Đà có nhiều tháp mộ như vậy?
Bổ Đà từng là tổ đình của một sơn môn lớn ở xứ Kinh Bắc thời Lê – Nguyễn. Không chỉ sư trụ trì chùa này mà tăng ni ở nhiều chùa thuộc sơn môn cũng được đưa về an táng tại đây, nên vườn tháp mới rộng như vậy.
Tên Bổ Đà có nghĩa là gì?
Bổ Đà là cách đọc Hán Việt của Potalaka, tên ngọn núi nơi Bồ tát Quán Thế Âm cư ngụ theo kinh điển Đại thừa. Tên chữ của chùa là Tứ Ân tự, gợi bốn ân lớn trong giáo lý nhà Phật.
Tường đất chùa Bổ Đà làm bằng gì?
Tường được làm từ đất đồi đắp và nện chặt thành lớp dày, trên có mái che nhỏ để chống xói. Đây là kiểu tường hiếm gặp ở chùa Bắc Bộ và rất dễ hư hại vì mưa, nhiều đoạn đã được tu bổ.