Tháp chùa thường có số tầng lẻ (3, 5, 7, 9) vì theo quan niệm âm dương phương Đông, số lẻ là số dương, gắn với trời, với sự đi lên và với điều cát tường, hợp với một công trình thờ Phật. Nhưng đó là thói quen chứ không phải luật: tháp Phổ Minh thời Trần có 14 tầng, sử chép tháp Báo Thiên thời Lý có 12 tầng. Muốn đọc một ngọn tháp, nhìn ba phần đế, thân, chóp và chất liệu dựng nên nó thì hiểu nhiều hơn là chỉ đếm tầng.
Số lẻ, số dương: lời giải thích phổ biến và giới hạn của nó
Trong vũ trụ quan âm dương mà người Việt chia sẻ với Trung Hoa, số lẻ thuộc dương, số chẵn thuộc âm. Dương là trời, là sáng, là sự sống vươn lên; một công trình hướng lên trời như tháp chọn số dương là điều tự nhiên. Tháp mộ ở các vườn tháp Bắc Bộ phần lớn ba hoặc năm tầng; tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ bảy tầng; tháp Báo Nghiêm chùa Bút Tháp năm tầng. Tục ngữ có "chín bậc phù đồ", dùng tháp chín tầng như hình ảnh của công đức cao nhất.
Có người giải thích thêm theo giáo lý: ba tầng ứng với Tam bảo, bảy tầng với bảy bước chân của Đức Phật lúc đản sinh, chín tầng với chín cõi... Những liên hệ này xuất hiện trong lời giảng ở nhiều chùa, nhưng không có văn bản cổ nào quy định tháp phải bao nhiêu tầng vì lý do ấy. Nên hiểu đó là cách người đời sau gán nghĩa, không phải nguyên tắc dựng tháp.
Những ngoại lệ đáng nhớ
| Tháp | Thời | Số tầng | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Tháp Báo Thiên (Thăng Long) | Lý, 1057 | 12 (theo Toàn thư) | Đã mất, chỉ còn sử chép |
| Tháp Phổ Minh (Nam Định cũ, nay Ninh Bình) | Trần, đầu thế kỷ 14 | 14 | Còn nguyên, chân đá thân gạch |
| Tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc cũ, nay Phú Thọ) | Thường xếp thời Trần | 11 tầng còn lại | Phần chóp đã mất, số tầng gốc chưa rõ |
| Tháp Phước Duyên (Huế) | Nguyễn, 1844 | 7 | Bát giác, đúng lệ số lẻ |
| Tháp Báo Nghiêm (Bút Tháp, Bắc Ninh) | Thế kỷ 17 | 5 | Tháp mộ bằng đá |
Bảng trên cho thấy: những ngọn tháp lớn nhất thời Lý – Trần lại có số tầng chẵn. Cách lý giải còn bỏ ngỏ; điều chắc là người dựng tháp thời đó không bị ràng buộc bởi "luật số lẻ" như cách người ta hay nói ngày nay.
Ba phần của một ngọn tháp: đế, thân, chóp
Gần như mọi tháp chùa đều chia được thành ba phần. Biết gọi tên từng phần giúp mô tả, so sánh và chụp ảnh có chủ đích.
Đế tháp
Đế là phần bệ đỡ, thường vuông ở Bắc Bộ, có khi bát giác ở miền Trung. Đế tháp cổ hay làm hai, ba cấp, mép chạm cánh sen hoặc sóng nước. Ở tháp Phổ Minh, phần đế và tầng dưới cùng bằng đá; ở tháp Báo Nghiêm, lan can đá quanh tầng dưới chạm nhiều ô hình. Đế cũng là chỗ dễ thấy dấu vết tu bổ nhất: viên đá, viên gạch khác màu, vữa xi măng mới xen vào vữa vôi cũ.
Thân tháp
Thân gồm các tầng chồng lên nhau, thu nhỏ dần. Tầng một thường cao nhất, có cửa hoặc khám thờ; các tầng trên thấp hơn, cửa nhỏ hơn hoặc chỉ là cửa giả (khung cửa đắp nổi, không thông vào trong). Mỗi tầng ngăn cách bằng một gờ mái nhỏ, có khi xếp gạch nhô ra từng lớp, gọi là kiểu "giật cấp". Độ thu nhỏ đều đặn quyết định dáng tháp: thu nhanh thì tháp trông bè chắc, thu chậm thì tháp thanh mảnh như cây bút.
Chóp tháp
Chóp ở đỉnh thường là hình búp sen, hồ lô (quả bầu) hoặc một bình nhỏ. Đây là phần dễ mất nhất vì đứng cao, hứng sét và gió bão. Nhiều tháp cổ ta thấy hôm nay đã mất chóp gốc, phần trên cùng là bản phục dựng; tháp Bình Sơn là ví dụ điển hình khi chỉ còn 11 tầng và người ta vẫn bàn về hình dáng nguyên thuỷ của đỉnh tháp.
Bốn vật liệu dựng tháp và vùng đất của chúng
| Vật liệu | Đặc điểm | Gặp ở đâu | Nhìn gì |
|---|---|---|---|
| Gạch nung | Phổ biến nhất, xây nhanh, trát vữa vôi | Khắp nơi, đặc biệt vườn tháp Bắc Bộ và tháp Huế | Mạch vữa, lớp vôi trát, dấu gạch in chữ |
| Đá | Bền, đắt, cần thợ giỏi | Tháp của người có thế lực: Báo Nghiêm, chân tháp Phổ Minh | Ô chạm, cách ghép mộng giữa các khối |
| Đất nung | Gạch đặc biệt nung có hoa văn, ghép thành mặt tháp | Tháp Bình Sơn và nhiều tháp Lý – Trần đã mất | Từng viên gạch là một ô hoa văn |
| Đá ong | Đá mềm khi mới đào, cứng dần ngoài không khí, màu nâu đỏ có lỗ | Vùng đồi xứ Đoài: Sơn Tây, Thạch Thất, Đường Lâm (Hà Nội) | Bề mặt rỗ tổ ong, góc cạnh mòn tròn |
Gạch và vữa
Tháp gạch Việt thường xây bằng vữa vôi trộn cát, có nơi trộn thêm mật mía hoặc giấy bản theo lời kể của thợ cũ, rồi trát ngoài một lớp vôi. Lớp trát bong đi là lộ mạch gạch. Gạch ở các công trình thời Lý có khi in chữ Hán ghi niên đại; nhìn kỹ các viên gạch lộ ra ở chân tháp cổ, đôi khi bắt gặp dấu chữ hoặc dấu khuôn của lò gạch, là manh mối quý cho người nghiên cứu.
Đất nung và đá
Tháp đất nung không phải tháp gạch trơn rồi trát hoa văn lên. Người thợ nặn và nung từng viên gạch mang sẵn hoa văn, khi xây khớp các viên lại thành mảng trang trí liền mạch. Cách làm này đòi hỏi tính toán từ trước kích thước, độ co của đất khi nung. Tháp đá thì ngược lại: các khối đá đẽo sẵn, ghép với nhau bằng mộng, chạm hoa văn trực tiếp lên mặt đá.
Bên trong tháp: đặc hay rỗng
Stupa Ấn Độ là khối đặc, không vào được. Tháp chùa Việt có ba kiểu:
- Đặc hoàn toàn: phần lớn tháp mộ nhỏ, chỉ có khám nông ở tầng một.
- Rỗng một phần: tầng dưới có gian thờ, các tầng trên đặc hoặc rỗng nhưng không có lối lên.
- Rỗng có cầu thang: hiếm, chủ yếu tháp Phật lớn hoặc tháp dựng mới. Tháp Báo Thiên mười hai tầng có lẽ thuộc loại này, nhưng tháp không còn nên cấu tạo bên trong chưa thể nói chắc.
Khi đến thăm, đừng tự ý trèo vào tháp cổ dù cửa không khoá. Kết cấu gạch vữa vôi hàng trăm năm tuổi chịu tải rất kém, và tháp mộ là nơi an nghỉ của các vị sư.
Hình khối theo vùng
Bắc Bộ: tháp mặt bằng vuông, thân đậm, gờ tầng ngắn, màu vôi xám hoặc nâu đá ong. Huế: tháp mộ có la thành và bình phong, tháp Phật bát giác như Phước Duyên, chóp thường là bình hoặc hồ lô. Nam Bộ: tháp mộ các tổ đình chịu ảnh hưởng Huế và Hoa, có tháp tròn hoặc lục giác. Chùa Khmer: tháp cốt đỉnh nhọn kéo dài, thân thắt nhiều nấc, sơn vàng, trắng, đỏ.
Góc nhìn hôm nay: đứng trước một ngọn tháp, đọc theo năm câu hỏi
- Mặt bằng vuông, bát giác hay tròn?
- Bao nhiêu tầng, tầng một có cửa thật hay cửa giả?
- Chất liệu gì: gạch, đá, đất nung hay đá ong? Có pha nhiều chất liệu không?
- Chóp hình gì, có vẻ cũ hay mới phục dựng?
- Có khám khắc tên tháp không, khắc chữ gì?
Năm câu đó đủ để ghi chép một ngọn tháp như người làm khảo cứu. Muốn tập mắt, nên đến tháp Phổ Minh (đá và gạch), tháp Bình Sơn (đất nung) và một vườn tháp đá ong ở vùng Sơn Tây, Hà Nội để so sánh.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao tháp chùa có số tầng lẻ?
Theo quan niệm âm dương, số lẻ là số dương, gắn với trời và sự đi lên, hợp với công trình thờ Phật. Vì vậy tháp chùa thường có 3, 5, 7 hoặc 9 tầng. Tuy nhiên đây là thói quen, không phải quy định bắt buộc.
Có tháp chùa nào số tầng chẵn không?
Có. Tháp Phổ Minh thời Trần, nay thuộc Ninh Bình, có 14 tầng. Đại Việt sử ký toàn thư chép tháp Báo Thiên thời Lý có 12 tầng. Cả hai đều là những ngọn tháp quan trọng bậc nhất của thời mình.
Tháp chùa gồm những phần nào?
Tháp gồm ba phần: đế tháp là bệ đỡ ở dưới, thân tháp gồm các tầng thu nhỏ dần, và chóp tháp ở đỉnh thường hình búp sen, hồ lô hoặc bình nhỏ. Tầng một thường cao nhất và có cửa hoặc khám thờ.
Tháp đất nung khác tháp gạch thế nào?
Tháp đất nung được ghép từ những viên gạch đã nặn sẵn hoa văn rồi mới nung, khi xây khớp lại thành mảng trang trí. Tháp gạch thường xây gạch trơn rồi trát vôi bên ngoài. Tháp Bình Sơn là ví dụ tiêu biểu của tháp đất nung.
Chín bậc phù đồ là gì?
Phù đồ là tên cũ của tháp Phật, chín bậc phù đồ là tháp chín tầng. Câu ca dao "Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người" ý nói cứu giúp người khác quý hơn cả việc xây tháp cao.