Chùa ChiềnWiki
Tìm
Tháp chùa & vườn tháp

Tháp chùa Việt Nam có mấy loại: tháp Phật, xá lợi, tháp mộ, tháp chuông

Tháp chùa Việt có bốn loại chính: tháp Phật, tháp xá lợi, tháp mộ và tháp chuông, thêm tháp cốt ở chùa Khmer. Nhìn vị trí, cửa và kích thước là phân biệt được.

Tháp chùa Việt Nam có mấy loại: tháp Phật, xá lợi, tháp mộ, tháp chuông

Tháp trong chùa Việt có bốn loại chính: tháp Phật (dựng để thờ Phật, thường đứng ở trung tâm hoặc trước chùa), tháp xá lợi (giữ xá lợi Phật hoặc của một bậc cao tăng), tháp mộ (mộ các đời sư trụ trì, gom lại thành vườn tháp) và tháp chuông (lầu treo chuông xây theo dáng tháp). Ở Nam Bộ có thêm tháp cốt trong chùa Khmer, nơi gửi tro cốt người trong phum sóc. Nhìn vị trí, kích thước và cửa tháp là đoán được tháp thuộc loại nào.

"Tháp" từ đâu ra: từ gò bát úp ở Ấn Độ đến ngọn tháp nhiều tầng

Chữ "tháp" trong tiếng Việt đi qua tiếng Hán, phiên từ chữ Phạn stupa (Pali thupa). Người xưa còn gọi là bảo tháp hoặc phù đồ, một lối phiên âm cũ hơn. Câu ca dao "Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người" chính là nói về tháp chín tầng.

Stupa nguyên thuỷ ở Ấn Độ không cao vút. Đó là một khối đặc hình bát úp, trên đỉnh có một khung vuông nhỏ và cột lọng, bên trong chôn xá lợi. Đại tháp Sanchi (Ấn Độ), khởi dựng từ thời vua A Dục thế kỷ 3 trước Công nguyên, vẫn giữ dáng đó. Khi Phật giáo vào Trung Hoa, người ta ghép ý stupa với kiểu lầu gác nhiều tầng, thành ngọn tháp có tầng, có mái, có cửa. Tháp chùa Việt thừa hưởng dáng thứ hai này, nhưng mỗi vùng lại biến đổi theo cách riêng: vuông và thấp đậm ở Bắc Bộ, bát giác và thanh ở Huế, nhọn như búp sen ở chùa Khmer.

Điều cần nhớ: tháp không phải là chùa. Chùa là cả một quần thể thờ tự và nơi ở của tăng ni; tháp là một công trình trong đó, có khi là trái tim (chùa thời Lý), có khi chỉ là phần phụ ở vườn sau (chùa Bắc Bộ thời Lê).

Bảng phân biệt nhanh bốn loại tháp

LoạiChức năngVị trí thường gặpKích thướcVí dụ
Tháp PhậtThờ Phật, biểu tượng của cả ngôi chùaTrung tâm hoặc trước chính điệnLớn, nhiều tầng, có khi leo lên đượcTháp Báo Thiên, tháp Phật Tích (đã mất), tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ
Tháp xá lợiGiữ xá lợi Phật hoặc cao tăngGiữa sân, sau chùa, trên núiTừ vừa đến rất lớnTháp Huệ Quang ở Yên Tử, tháp Phổ Minh (theo truyền)
Tháp mộMộ sư trụ trì, tổ khai sơnVườn tháp sau chùa hoặc bên cạnhNhỏ đến vừa, thường dưới 10 mTháp Báo Nghiêm chùa Bút Tháp, vườn tháp Bổ Đà
Tháp chuôngTreo chuông, không thờ, không chônTrước hoặc bên chính điệnVừa, có ô cửa lớn để tiếng chuông thoát raMột số chùa Nam Bộ và chùa dựng mới
Tháp cốt (Khmer)Giữ tro cốt người đã khuấtRải trong khuôn viên chùa KhmerNhỏ, nhiều màu, đỉnh nhọnChùa Xiêm Cán, chùa Âng

Tháp Phật: khi tháp là trung tâm của chùa

Chùa Việt thời Lý (thế kỷ 11–12) nhiều nơi lấy một ngọn tháp lớn làm tâm, các toà điện xếp quanh. Đại Việt sử ký toàn thư chép năm 1057 vua Lý Thánh Tông cho xây tháp Đại Thắng Tư Thiên ở chùa Báo Thiên, mười hai tầng, cao vài chục trượng. Cùng thời, chùa Phật Tích ở Bắc Ninh có một ngọn tháp lớn mà nay chỉ còn nền, và đầu thế kỷ 12 có tháp chùa Chương Sơn ở Nam Định cũ (nay thuộc Ninh Bình). Cả ba tháp đều đã mất, chỉ còn sử chép và dấu tích khảo cổ.

Từ thời Lê trở đi, toà Phật điện bằng gỗ thành trung tâm của chùa Bắc Bộ, tháp Phật lớn hiếm dần. Ở Huế, tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ (vua Thiệu Trị dựng năm 1844, bảy tầng) là ví dụ tháp Phật thời Nguyễn đứng ngay trước chùa như bộ mặt của cả quần thể.

Cách nhận ra

  • Đứng trên trục chính của chùa, thường ngay trước hoặc giữa sân.
  • Tầng dưới có cửa mở, bên trong có ban thờ hoặc tượng Phật.
  • Lớn hơn hẳn mọi tháp khác trong khuôn viên.

Tháp xá lợi: giữ di cốt của Phật và cao tăng

Xá lợi là phần di cốt còn lại sau lễ hoả táng. Truyền thống Phật giáo kể xá lợi Đức Phật được chia cho tám vương quốc, mỗi nơi dựng một tháp; đó là những stupa đầu tiên. Ở Việt Nam, tháp xá lợi gắn với các bậc cao tăng được tôn kính nhất. Toàn thư chép sau khi vua Trần Nhân Tông mất ở am Ngoạ Vân (1308), xá lợi được đưa về lăng và dựng tháp ở Yên Tử; ngọn tháp Huệ Quang trên núi Yên Tử hiện nay gắn với sự kiện đó. Tháp Phổ Minh ở Nam Định cũ (nay thuộc Ninh Bình) theo truyền cũng giữ một phần xá lợi của ngài.

Ranh giới giữa tháp xá lợi và tháp mộ không cứng: tháp mộ của một vị tổ, nếu bên trong đặt xá lợi sau hoả táng, cũng gọi là tháp xá lợi. Điểm khác là quy mô và ý nghĩa: tháp xá lợi thường được dựng như một công trình thờ, có lễ chiêm bái riêng.

Tháp mộ: loại tháp gặp nhiều nhất

Đi chùa cổ Bắc Bộ, phần lớn tháp bạn gặp là tháp mộ. Khi một vị sư trụ trì viên tịch, môn đồ xây tháp làm mộ, đặt nhục thân, tro cốt hoặc chỉ là bài vị và di vật. Tháp mộ của nhiều đời sư gom lại một khu thành vườn tháp.

Tháp mộ đẹp và nổi tiếng nhất có lẽ là tháp Báo Nghiêm ở chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), tháp đá thế kỷ 17 của thiền sư Chuyết Chuyết. Nhưng phổ biến hơn là những tháp gạch ba, năm tầng, cao chừng ba đến sáu mét, vôi vữa bạc màu, rêu phủ chân. Vườn tháp chùa Bổ Đà (Bắc Giang cũ, nay thuộc Bắc Ninh) là nơi gom nhiều tháp mộ nhất miền Bắc.

Cách nhận ra

  • Nằm lệch trục, sau hoặc cạnh chùa, thường nhiều tháp đứng gần nhau.
  • Tầng dưới có một ô khám nhỏ, khắc tên tháp kiểu "… tháp" (ví dụ "Báo Nghiêm tháp"), đôi khi có câu đối hai bên.
  • Không có cửa vào bên trong; nếu có, chỉ là một khám nhỏ đặt bát hương hoặc tượng nhỏ.
  • Ở Huế, tháp mộ thường có la thành (tường thấp bao quanh) và bình phong phía trước, khác hẳn tháp mộ Bắc Bộ đứng trơ giữa vườn.

Tháp chuông: dáng tháp nhưng là lầu chuông

Chùa truyền thống Bắc Bộ treo chuông ở gác chuông, thường làm trên tam quan hoặc thành một gác riêng có mái chồng diêm (mái hai, ba tầng chồng lên nhau). Một số chùa Nam Bộ và chùa dựng mới xây lầu chuông theo dáng tháp: nhiều tầng mái, tầng trên có ô cửa lớn để treo đại hồng chung. Đây không phải nơi thờ, cũng không phải mộ. Dấu hiệu dễ thấy nhất: ô cửa tầng treo chuông rộng và thoáng, nhìn xuyên qua được, khác với ô khám kín của tháp mộ.

Gác chuông có lịch sử và kiểu dáng riêng theo vùng, như gác chuông gỗ ba tầng mái của chùa Keo; ở đây chỉ cần biết để khỏi nhầm một tháp chuông mới với một ngọn tháp Phật cổ.

Tháp cốt chùa Khmer và tháp Chăm: hai họ hàng xa

Chùa Khmer Nam Bộ theo Phật giáo Nam tông. Trong khuôn viên thường có rất nhiều tháp nhỏ, đỉnh nhọn, sơn nhiều màu: đó là tháp cốt, nơi các gia đình gửi tro cốt người thân sau hoả táng. Tháp cốt của sư cả (vị sư đứng đầu chùa) to và trang trí công phu hơn. Đây là loại tháp gần với chức năng stupa nguyên thuỷ nhất.

Tháp Chăm thì khác hẳn. Phần lớn tháp Chăm còn lại là đền thờ thần Ấn Độ giáo (Shiva và các thần khác), không phải tháp chùa. Chỉ một số ít di tích Chăm thuộc Phật giáo, tiêu biểu là Phật viện Đồng Dương năm 875. Thấy tháp gạch đỏ ở miền Trung, đừng mặc định đó là tháp Phật.

Góc nhìn hôm nay: đi một vòng chùa, tự phân loại tháp

Lần tới đến một ngôi chùa cổ, thử làm bốn việc:

  1. Tìm trục chính. Ngọn tháp nào đứng trên trục, lớn nhất, có cửa vào, nhiều khả năng là tháp Phật hoặc tháp xá lợi.
  2. Đi ra vườn sau. Những tháp nhỏ đứng lệch, có khám khắc chữ, là tháp mộ. Đếm số tháp để biết chùa có bao nhiêu đời trụ trì được an táng tại chỗ.
  3. Đọc tên tháp. Chữ cuối thường là "tháp"; hai chữ trước là tháp hiệu, gợi tới hiệu của vị sư.
  4. Nhìn vật liệu. Đá, gạch, đất nung hay đá ong cho biết vùng và thời: tháp đá thường của nơi có thế lực, tháp đá ong gặp nhiều ở xứ Đoài.

Muốn xem tận mắt các loại tháp trong một ngày quanh Hà Nội: Bút Tháp (tháp mộ đá), Phật Tích (nền tháp Phật thời Lý), rồi Bổ Đà (vườn tháp). Đọc thêm: các sách khảo cứu về chùa Việt của Viện Nghiên cứu Mỹ thuật và các báo cáo khảo cổ học về kiến trúc Lý – Trần.

Câu hỏi thường gặp

Tháp chùa có mấy loại?

Có bốn loại chính: tháp Phật để thờ Phật, tháp xá lợi giữ di cốt Phật hoặc cao tăng, tháp mộ của các đời sư trụ trì và tháp chuông để treo chuông. Chùa Khmer Nam Bộ có thêm tháp cốt, nơi gửi tro cốt của người trong phum sóc.

Tháp mộ trong chùa chôn ai?

Tháp mộ là nơi an táng các vị sư trụ trì, tổ khai sơn hoặc tăng ni có công với chùa. Bên trong có thể là nhục thân, tro cốt hoặc di vật, tuỳ thời và tuỳ truyền thống. Tên tháp khắc ở khám tầng dưới cho biết đó là tháp của ai.

Tháp và chùa khác nhau thế nào?

Chùa là cả một quần thể gồm điện thờ, nhà Tổ, nhà tăng, sân vườn. Tháp chỉ là một công trình trong quần thể đó. Thời Lý có chùa lấy tháp làm trung tâm, còn chùa Bắc Bộ từ thời Lê trở đi lấy toà Phật điện bằng gỗ làm trung tâm và tháp lùi ra vườn.

Phù đồ là gì?

Phù đồ là cách gọi cũ của tháp Phật, phiên âm qua chữ Hán từ tiếng Phạn. Câu ca dao "Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người" nói về tháp chín tầng, ý rằng cứu người quý hơn xây tháp.

Tháp Chăm có phải tháp chùa không?

Phần lớn không. Đa số tháp Chăm còn lại là đền thờ thần của Ấn Độ giáo. Chỉ một số di tích Champa thuộc Phật giáo, nổi bật nhất là Phật viện Đồng Dương dựng năm 875, nay thuộc thành phố Đà Nẵng.

Mở app Chùa Chiền

Chùa Việt 3D — đi, ngồi, lạy cùng người thật

Mở app Chùa Chiền

Bài viết liên quan

Mở app Chùa Chiền

Chùa Việt 3D — đi, ngồi, lạy cùng người thật

Mở app Chùa Chiền Xem app khác