Vườn tháp chùa là khu đất trong hoặc cạnh chùa, nơi dựng tháp mộ của các đời sư trụ trì, tổ khai sơn và tăng ni có công. Mỗi ngọn tháp là một ngôi mộ, trên khám tháp khắc tên vị sư, thường kèm dòng phái, đời truyền thừa và năm dựng. Đọc được những dòng chữ đó là đọc được lịch sử truyền đăng của chính ngôi chùa: ai lập chùa, ai nối tiếp, chùa thuộc dòng thiền nào.
Vì sao sư không chôn ở nghĩa địa làng
Người xuất gia rời gia đình thế tục để vào một "gia đình" khác là sơn môn. Thầy là cha mẹ đạo, đồng môn là anh em. Vì vậy khi viên tịch, vị sư được môn đồ an táng ngay tại chùa, nơi các thế hệ đệ tử tiếp tục hương khói vào ngày giỗ, gọi là ngày kỵ. Ngọn tháp thay cho nấm mộ, vừa là chỗ an nghỉ vừa là một công trình mang dáng tháp Phật, tỏ lòng tôn kính.
Bên trong tháp có thể là nhục thân (thân xác được an táng nguyên), tro cốt và xá lợi sau hoả táng, hoặc chỉ là bài vị và di vật khi vị sư mất xa chùa. Tuỳ thời và tuỳ vùng mà tập quán khác nhau; không nên đoán bên trong tháp có gì khi không có tư liệu của chùa.
Sau tang lễ có lễ nhập tháp, đưa di cốt hoặc linh vị vào tháp đã xây. Từ đó, ngày kỵ của vị sư được ghi trong sổ của chùa, hằng năm môn đồ về làm lễ. Chùa nào giữ sổ kỵ đầy đủ thì sổ ấy cùng vườn tháp là bộ tư liệu lịch sử quý nhất của chùa.
Bố cục một vườn tháp: ai đứng ở đâu
Vườn tháp không xếp ngẫu nhiên. Vài quy luật thường gặp, dù mỗi chùa có thể khác:
- Tháp tổ khai sơn (vị lập chùa) thường to nhất, cao nhất, đặt ở chỗ trang trọng: chính giữa, trên trục, hoặc ở chỗ đất cao nhất.
- Tháp các đời trụ trì kế tiếp xếp quanh hoặc hai bên, đời trước gần tháp tổ hơn.
- Tháp tăng ni thường nhỏ hơn, ở rìa vườn.
- Ở Bắc Bộ vườn tháp thường nằm sau hoặc bên chùa, tháp đứng sát nhau giữa vườn cây. Ở Huế, tháp tổ hay đặt riêng trên đồi thông, có la thành (tường thấp bao quanh) và bình phong trước mặt, nhiều khi cách chùa một đoạn đường.
Kích thước tháp phản ánh vai trò và cả khả năng của môn đồ lúc dựng. Một tháp nhỏ không có nghĩa vị sư kém quan trọng; có khi chỉ là chùa nghèo, hoặc tháp được dựng lại sau khi tháp cũ đổ.
Cách đọc tên trên tháp: năm loại tên của một vị sư
Đây là phần gây bối rối nhất. Một vị sư có thể có tới năm tên khác nhau, xuất hiện trên tháp, bia và sách sử.
| Loại tên | Khi nào có | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Pháp danh (còn gọi nội danh, huý) | Khi quy y hoặc xuất gia | Chữ đầu thường lấy từ bài kệ truyền thừa của dòng, cho biết vị đó thuộc đời thứ mấy |
| Pháp tự | Khi thọ giới lớn | Nhiều dòng có bài kệ riêng để đặt pháp tự |
| Pháp hiệu | Khi đã thành bậc thầy, được thầy hoặc tự đặt | Là tên hay được gọi nhất, như "Liễu Quán", "Chuyết Chuyết" |
| Tháp hiệu | Khi dựng tháp | Tên riêng của ngọn tháp, như "Báo Nghiêm tháp" |
| Thuỵ hiệu, sắc phong | Sau khi mất, do triều đình hoặc môn đồ đặt | Gặp ở các vị được vua chúa tôn kính |
Công thức "huý thượng … hạ …"
Văn khắc trên tháp và bia hay viết tên theo lối kiêng huý: "huý thượng X hạ Y", nghĩa là tên huý chữ trên là X, chữ dưới là Y. Gặp câu "huý thượng Minh hạ Hải" thì hiểu pháp danh là Minh Hải. Biết công thức này là đọc được phần quan trọng nhất của văn tháp mà không cần thạo Hán văn.
Dòng chữ chính trên khám tháp
Một khám tháp đầy đủ thường có:
- Tháp hiệu ở giữa hoặc trên cùng, chữ to, kết thúc bằng chữ "tháp".
- Dòng phái và đời: dạng "Lâm Tế chính tông đệ … thế", tức đời thứ mấy của dòng Lâm Tế.
- Tên huý, tự, hiệu và danh xưng như "Hoà thượng".
- Lạc khoản: dòng nhỏ bên cạnh ghi niên hiệu vua và năm can chi lúc dựng tháp.
- Câu đối hai bên khám, ca ngợi đạo hạnh.
Bài kệ truyền thừa: chữ đầu pháp danh là "số đời"
Nhiều dòng thiền đặt pháp danh theo một bài kệ: mỗi đời lấy một chữ trong bài làm chữ đầu. Nhìn chữ đầu, người trong dòng biết ngay ai là thầy, ai là trò, ai ngang hàng.
Hai ví dụ ở Đàng Trong
Dòng Lâm Tế Chúc Thánh do thiền sư Minh Hải lập ở chùa Chúc Thánh (Hội An, nay thuộc Đà Nẵng) đầu thế kỷ 18 dùng bài kệ mở đầu bằng các chữ: Minh Thiệt Pháp Toàn Chương, Ấn Chân Như Thị Đồng... Tổ là Minh Hải; đệ tử đời sau mang chữ Thiệt, rồi Pháp, Toàn, Chương... Đứng trong vườn tháp chùa Chúc Thánh, thấy tháp một vị pháp danh chữ đầu "Pháp" là biết vị đó thuộc đời thứ ba tính từ tổ.
Dòng Lâm Tế Liễu Quán ở xứ Huế do thiền sư Liễu Quán khai mở, bài kệ bắt đầu: Thật Tế Đại Đạo, Tánh Hải Thanh Trừng... Rất nhiều chùa Huế và Nam Bộ thuộc dòng này, nên trong vườn tháp các chùa ấy hay gặp những pháp danh mở đầu bằng Tế, Đại, Đạo, Tánh, Hải, Thanh, Trừng.
Ở Bắc Bộ, các dòng Lâm Tế và Tào Động vào Đàng Ngoài thế kỷ 17 (thiền sư Chuyết Chuyết, Thuỷ Nguyệt) cũng có bài kệ riêng. Khi đọc tháp ở một chùa Bắc Bộ, ghi lại chữ đầu pháp danh của các tháp rồi tra trong Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang) hoặc tư liệu sơn môn là có thể dựng lại được cây phả hệ.
Những vườn tháp nên biết
| Vườn tháp | Nơi | Đáng xem vì |
|---|---|---|
| Chùa Bổ Đà | Bắc Giang cũ, nay Bắc Ninh | Vườn tháp lớn nhất miền Bắc, tường đất bao quanh |
| Chùa Bút Tháp | Thuận Thành, Bắc Ninh | Tháp đá Báo Nghiêm của thiền sư Chuyết Chuyết |
| Yên Tử | Quảng Ninh | Khu tháp Huệ Quang và tháp các vị tổ Trúc Lâm |
| Chùa Chúc Thánh | Hội An, nay Đà Nẵng | Tháp tổ Minh Hải, đọc kệ truyền thừa ngay tại chỗ |
| Các tổ đình Huế | Huế | Tháp tổ có la thành, bình phong giữa đồi thông |
Phép lịch sự khi vào vườn tháp
- Vườn tháp là nghĩa trang của chùa. Xin phép người trong chùa trước khi vào, nhất là khi vườn nằm sau khu nhà tăng.
- Không ngồi, đứng, tựa lên tháp hoặc đế tháp; không trèo để chụp ảnh.
- Không chà, vẽ, rập thác bản văn khắc khi chưa được phép. Muốn chép chữ thì chụp ảnh, nếu chữ mờ thì chụp lúc nắng xiên buổi sớm hoặc chiều muộn, bóng đổ làm nét khắc rõ hơn.
- Không tự ý thắp hương, đặt đồ lễ lên tháp; nếu muốn bày tỏ lòng kính, chắp tay đứng lặng trước tháp tổ là đủ.
Góc nhìn hôm nay: vườn tháp là kho sử chưa ai đọc hết
Văn khắc trên tháp mộ là loại tư liệu ít được biết hơn bia đá trong chùa, nhưng cùng quan trọng. Nhiều tháp đã được Viện Nghiên cứu Hán Nôm rập thác bản và đưa vào Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm. Nếu chùa làng bạn có vườn tháp, việc nhỏ có ích nhất là chụp ảnh từng khám tháp, ghi vị trí, ghi lại chữ đầu pháp danh và năm dựng. Tháp gạch vữa vôi xuống cấp rất nhanh, bản ghi hôm nay có khi là bản duy nhất còn lại sau vài chục năm.
Câu hỏi thường gặp
Vườn tháp chùa là gì?
Vườn tháp là khu đất trong hoặc cạnh chùa dùng làm nơi an táng các đời sư trụ trì và tăng ni. Mỗi ngọn tháp là một ngôi mộ, trên khám khắc tên, dòng phái và năm dựng. Đây là nghĩa trang riêng của sơn môn.
Tháp mộ của ai thường to nhất trong vườn tháp?
Thường là tháp của tổ khai sơn, vị lập ra ngôi chùa. Tháp này hay đặt ở chỗ trang trọng nhất như giữa vườn hoặc nơi đất cao. Tháp các đời trụ trì kế tiếp xếp xung quanh.
Pháp danh và pháp hiệu khác nhau thế nào?
Pháp danh là tên đặt khi quy y hoặc xuất gia, chữ đầu thường lấy theo bài kệ truyền thừa của dòng. Pháp hiệu là tên đặt khi vị sư đã thành bậc thầy và thường là tên được gọi phổ biến nhất. Trên tháp có thể khắc cả hai.
"Huý thượng hạ" trên bia tháp nghĩa là gì?
Đây là cách ghi tên kiêng huý: "huý thượng X hạ Y" nghĩa là tên huý chữ trên là X, chữ dưới là Y. Ví dụ "huý thượng Minh hạ Hải" là pháp danh Minh Hải.
Vào vườn tháp chùa cần lưu ý gì?
Xin phép người trong chùa, không ngồi hay trèo lên tháp, không tự ý thắp hương hay rập văn khắc. Vườn tháp là nghĩa trang của chùa nên giữ yên lặng như khi vào nghĩa trang.