Chùa Chúc Thánh ở Hội An (nay thuộc Đà Nẵng) là tổ đình của dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh, do thiền sư Minh Hải Pháp Bảo, người Phúc Kiến, khai sơn cuối thế kỷ 17. Từ ngôi chùa cách phố cổ chừng hai cây số này, dòng Chúc Thánh lan khắp Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định rồi vào tới Nam Bộ. Người đi Hội An thường chỉ ở trong phố cổ; dành thêm một giờ cho Chúc Thánh là được thấy vườn tháp cổ và hiểu vì sao Hội An không chỉ là phố của thương nhân.
Thiền sư Minh Hải và dòng Chúc Thánh
Thiền sư Minh Hải, hiệu Pháp Bảo, quê ở Phúc Kiến, theo các tài liệu Phật giáo sinh năm 1670, mất năm 1746. Cuối thế kỷ 17, cùng làn sóng các thiền sư Trung Hoa sang Đàng Trong, ông đến Hội An, khi ấy là thương cảng sầm uất với đông người Hoa sinh sống. Ông dựng một thảo am ở vùng đất phía bắc phố, về sau phát triển thành chùa Chúc Thánh. Năm lập chính xác các nguồn ghi lệch nhau; nên hiểu là khoảng cuối thập niên 1690.
Minh Hải thuộc đời thứ 34 của dòng Lâm Tế. Ông đặt ra một bài kệ truyền pháp riêng — mỗi chữ trong bài kệ là chữ đầu pháp danh của một đời học trò. Bài kệ mở đầu bằng "Minh Thiệt Pháp Toàn Chương, Ấn Chơn Như Thị Đồng…", tức đời của ông mang chữ "Minh", học trò chữ "Thiệt", đời sau "Pháp", rồi "Toàn", "Chương"… Nhờ bài kệ này, một dòng thiền mang dấu ấn riêng của xứ Quảng ra đời, gọi là Lâm Tế Chúc Thánh, song song với dòng Liễu Quán ở Huế.
| Dòng Chúc Thánh | Dòng Liễu Quán | |
|---|---|---|
| Tổ khai dòng | Minh Hải Pháp Bảo (người Phúc Kiến) | Liễu Quán Thiệt Diệu (người Phú Yên) |
| Tổ đình | Chúc Thánh, Hội An | Thiền Tôn, Huế |
| Thời điểm hình thành | Cuối thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18 | Đầu thế kỷ 18 |
| Vùng lan toả mạnh | Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cũ, rồi Nam Bộ | Huế và các tỉnh miền Trung, rồi Nam Bộ |
| Nhận biết | Pháp danh có chữ Minh, Thiệt, Pháp, Toàn, Chương, Ấn, Chơn… | Theo bài kệ riêng của Liễu Quán, mở đầu "Thiệt Tế Đại Đạo…" |
Chữ "Thiệt" xuất hiện ở cả hai dòng, nên đọc pháp danh cần thêm thông tin về chùa và thầy truyền mới chắc được người ấy thuộc dòng nào.
Dòng Chúc Thánh lan đi đâu
Từ Hội An, học trò của Minh Hải và các đời sau tỏa ra theo bước chân người Việt đi về phương Nam. Ở Quảng Nam cũ, nhiều chùa làng và tổ đình nhận mình thuộc dòng Chúc Thánh. Xuống Quảng Ngãi, Bình Định cũ, dòng này có mặt trong nhiều ngôi chùa cổ. Sang thế kỷ 18–19, theo các đợt di dân, các vị sư dòng Chúc Thánh vào tới Phú Yên, Khánh Hoà và Gia Định.
Cách nhận ra rất đơn giản: tới một ngôi chùa cổ ở miền Trung, xem bài vị các đời tổ hoặc bia tháp, nếu thấy chữ đầu pháp danh lần lượt khớp với "Minh – Thiệt – Pháp – Toàn – Chương – Ấn – Chơn…" thì nhiều khả năng ngôi chùa ấy có gốc từ Chúc Thánh. Đây là lý do người nghiên cứu Phật giáo miền Trung gần như chuyến nào cũng quay lại Hội An.
Tên "Chúc Thánh" nghĩa là gì
"Chúc" là cầu chúc, "Thánh" ở đây chỉ nhà vua (thánh thượng). "Chúc Thánh" là cầu chúc cho vua được an khang, đất nước bền lâu. Bài kệ của Minh Hải cũng có câu "Chúc Thánh thọ thiên cửu, Kỳ quốc tộ địa trường", ý là chúc vua sống lâu như trời, nguyện vận nước dài như đất. Cách đặt tên này phản ánh mối quan hệ gắn bó giữa các thiền sư và chính quyền chúa Nguyễn thời đó, giống tên Báo Quốc, Quốc Ân ở Huế.
Đi một vòng chùa: xem gì
Chúc Thánh giữ dáng một ngôi chùa xứ Quảng: thấp, nhiều cây, mái ngói rêu phong, không gian rộng trải ra phía sau.
- Cổng tam quan. Cổng hướng ra con đường làng, phía sau là lối đi lát gạch dẫn vào sân.
- Sân chùa. Rộng, có cây cổ thụ, bồn cảnh. Đứng giữa sân nhìn tổng thể mái các dãy nhà.
- Chánh điện. Bên trong có hoành phi, câu đối chữ Hán, nhiều tấm ghi niên hiệu thời Nguyễn. Khung gỗ kiểu nhà rường miền Trung, các vì kèo chạm khắc vừa phải.
- Nhà Tổ. Thờ tổ Minh Hải và các đời kế thế. Đây là trái tim của một tổ đình: tìm bài vị tổ khai sơn, đọc các chữ đầu pháp danh trên bài vị các đời sau để thấy bài kệ "chạy" thế nào.
- Vườn tháp. Phía sau và bên cạnh chùa là vườn tháp lớn, gồm tháp tổ Minh Hải và tháp nhiều đời trụ trì, có tháp đã rêu phủ, có tháp được tu bổ. Đây là phần đáng dành thời gian nhất.
Đọc vườn tháp Chúc Thánh
Tháp mộ ở đây thường là tháp gạch vôi nhiều tầng thấp, mặt trước có bia ghi pháp danh, pháp hiệu, năm viên tịch theo niên hiệu. Thử làm một việc nhỏ: đi qua các tháp, ghi lại chữ đầu pháp danh. Nếu thấy lần lượt các chữ Minh, Thiệt, Pháp, Toàn… là đang đi ngược – xuôi theo bài kệ của tổ. Không chạm tay vào bia, không đặt đồ lên tháp; đây là nơi an nghỉ các vị sư.
Chúc Thánh trong bức tranh Hội An
Hội An thế kỷ 17–18 là thương cảng quốc tế: người Việt, người Hoa, người Nhật, thương thuyền phương Tây. Trong phố cổ, những gì du khách thấy nhiều là hội quán người Hoa, nhà phố buôn bán, chùa Cầu. Chúc Thánh và các chùa phía bắc phố cho thấy một lớp khác: Phật giáo của cư dân Việt và Hoa, nơi các thiền sư mở đạo tràng, truyền giới, đào tạo học trò.
Gần Chúc Thánh còn có chùa Phước Lâm, cũng là một tổ đình quan trọng của dòng Chúc Thánh, có thể đi bộ hoặc đạp xe nối hai chùa. Chùa Cầu trong phố cổ thì khác loại: đó là một cây cầu có điện thờ, gắn với cộng đồng thương nhân, không phải tổ đình.
Ghép vào lịch trình phố cổ
- Khoảng cách: khoảng hai cây số về phía bắc phố cổ Hội An. Đạp xe khoảng mười, mười lăm phút qua đường làng.
- Giờ đẹp: sáng sớm, trước khi đoàn khách vào phố. Chùa yên tĩnh, ánh sáng xiên qua vườn tháp rất đẹp. Có thể đi Chúc Thánh, Phước Lâm từ 6–7 giờ sáng rồi vào phố cổ ăn sáng.
- Thời gian ở chùa: 45 phút đến một giờ, nhiều hơn nếu muốn đọc kỹ vườn tháp.
- Mùa: mùa khô (khoảng tháng 2 đến tháng 8) dễ đi. Mùa lụt Hội An (tháng 10–11) đường làng có thể ngập; hỏi trước.
- Ứng xử: chùa là nơi tu tập; mặc kín đáo, nói khẽ, không vào khu tăng xá. Giờ mở cửa nên hỏi văn phòng chùa.
Góc nhìn hôm nay
Chúc Thánh là ví dụ rõ nhất về cách một bài kệ trở thành "gia phả" của hàng trăm ngôi chùa. Khi đi chùa ở Quảng Nam, Quảng Ngãi hay Gia Lai, đọc chữ đầu pháp danh trên bia tháp hay bài vị là có thể đoán ngôi chùa ấy có quan hệ với tổ đình Hội An hay không. Để đọc tiếp: Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (phần thiền sư Minh Hải và các dòng thiền Đàng Trong), và các khảo cứu về Phật giáo xứ Quảng do các nhà nghiên cứu địa phương biên soạn. Mang về một thứ: ảnh chụp bia tháp tổ Minh Hải và danh sách chữ đầu pháp danh mình đọc được trong vườn tháp.
Câu hỏi thường gặp
Chùa Chúc Thánh Hội An có từ bao giờ?
Chùa do thiền sư Minh Hải Pháp Bảo, người Phúc Kiến, khai sơn vào khoảng cuối thập niên 1690. Năm lập chính xác các nguồn ghi không thống nhất. Đây là một trong những chùa cổ nhất vùng Hội An.
Dòng Lâm Tế Chúc Thánh là gì?
Đó là một nhánh của dòng thiền Lâm Tế do thiền sư Minh Hải lập ở Hội An, truyền pháp theo bài kệ riêng mở đầu "Minh Thiệt Pháp Toàn Chương". Dòng này lan khắp Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cũ và vào Nam Bộ.
Chùa Chúc Thánh cách phố cổ Hội An bao xa?
Khoảng hai cây số về phía bắc phố cổ, đạp xe mất chừng mười, mười lăm phút. Nên đi sáng sớm trước khi vào phố.
Dòng Chúc Thánh khác dòng Liễu Quán thế nào?
Cả hai đều là nhánh Lâm Tế hình thành ở Đàng Trong cuối thế kỷ 17 – đầu thế kỷ 18, mỗi dòng có bài kệ truyền pháp riêng. Chúc Thánh do Minh Hải lập ở Hội An, còn Liễu Quán phát triển từ Huế với tổ đình Thiền Tôn.
Chùa Chúc Thánh có gì để xem?
Ngoài chánh điện và nhà Tổ thờ tổ Minh Hải, điểm đáng xem nhất là vườn tháp cổ phía sau chùa, nơi có tháp tổ và tháp nhiều đời trụ trì. Đọc chữ đầu pháp danh trên bia tháp sẽ thấy cách bài kệ truyền pháp được dùng qua nhiều thế hệ.