Chùa hang là chùa lấy chính lòng hang đá làm điện thờ: người xưa chỉ xây thêm một mặt tiền hay một bức tường bít bớt cửa hang, đặt bệ thờ dựa vào vách, còn vòm đá là mái. Chùa núi thì chia thành nhiều cấp nối bằng bậc đá, thường gọi chùa Hạ ở chân núi, chùa Trung ở lưng chừng, chùa Thượng trên cao. Những ví dụ tiêu biểu ở miền Bắc là Bích Động và Địch Lộng (Ninh Bình), chùa Trầm (Hà Nội), Tây Thiên trên sườn Tam Đảo (nay thuộc Phú Thọ). Phần lớn nằm ở vùng núi đá vôi, nơi hang tự nhiên có sẵn.
Một số chùa hang, chùa núi đáng biết
| Chùa | Ở đâu (nay) | Kiểu | Điểm đáng xem |
|---|---|---|---|
| Bích Động | Ninh Bình, vùng Tam Cốc | Ba cấp: Hạ, Trung (trong hang), Thượng | Chùa Trung áp vào cửa hang, đường xuyên núi |
| Địch Lộng | Ninh Bình | Chùa chân núi và động nhiều ngách | Các khoang động có nhũ đá |
| Chùa Trầm (Long Tiên tự) | Hà Nội, vùng Chương Mỹ cũ | Chùa dựa núi, thờ trong động | Động Long Tiên trong núi Trầm |
| Tây Thiên | Phú Thọ (Vĩnh Phúc cũ), sườn Tam Đảo | Chùa, đền trên sườn núi rừng | Lối bậc đá dưới tán rừng, cảnh núi |
| Động Hương Tích (chùa Hương) | Hà Nội | Động lớn, chùa nhiều cấp | Chữ khắc ở cửa động |
| Động Huyền Không | Đà Nẵng, Ngũ Hành Sơn | Động có giếng trời, thờ Phật | Ánh sáng rọi qua lỗ trần hang |
Chùa Hương, Yên Tử, chùa Thầy, Côn Sơn hay Bái Đính cổ đều có những phần trong hang hoặc trên núi; các chùa đó có bài riêng, ở đây chỉ nhắc để so sánh.
Dựng chùa trong hang như thế nào
Chọn hang
Không phải hang nào cũng thành chùa được. Hang dùng làm chùa thường có cửa rộng đón sáng, lòng hang tương đối khô, nền đủ phẳng để đặt bệ, và có lối lên không quá hiểm. Nhiều hang vốn đã là nơi thờ thần núi hoặc nơi ẩn tu của một vị sư trước khi thành chùa. Quan niệm xưa ưa chỗ tựa núi, nhìn ra sông, đồng: hang trên sườn núi đá vôi nhìn xuống cánh đồng Ninh Bình là một lựa chọn đúng như vậy.
Mái là vòm đá, tường là vách núi
Khi đã có hang, việc xây dựng rất ít. Người ta thường xây một bức tường hoặc một toà tiền đường nhỏ ngay cửa hang, có cửa ra vào, vừa chắn gió mưa vừa đánh dấu ranh giới thờ tự. Bên trong, bệ thờ được xây bằng gạch đá dựa vào vách, hoặc đẽo thẳng vào đá. Tượng đặt trên bệ, có khi trong những hốc đá tự nhiên. Không cần bộ khung gỗ, không cần mái ngói, nên chùa hang ít bị hư hại vì mối mọt và bão gió như chùa đồng bằng.
Ẩm, tối và khói
Cái khó của chùa hang là hơi ẩm. Nước thấm qua đá vôi nhỏ giọt quanh năm, vách hang ướt, tượng gỗ sơn và giấy tờ rất nhanh hỏng. Vì vậy trong hang thường gặp tượng đá, tượng đúc, hoặc tượng được đặt trong khám có mái che. Khói hương không thoát được ra ngoài nên ám đen vách đá, một vấn đề mà các ban quản lý di tích hiện nay vẫn phải xử lý.
Nhũ đá và tên gọi dân gian
Trong nhiều động, các khối nhũ đá được người dân đặt tên theo hình dáng: cây vàng, cây bạc, núi cô, núi cậu, đụn gạo, bầu sữa mẹ... Đây là lời kể dân gian gắn vào cảnh quan, làm cho động thêm gần gũi, không phải giáo lý nhà Phật. Khi nghe người địa phương kể, nên coi đó là văn hoá truyền khẩu đáng nghe chứ không phải chuyện linh nghiệm.
Chùa núi: ba cấp Hạ – Trung – Thượng
Ở nhiều chùa núi Bắc Bộ, quần thể chia làm ba cấp. Chùa Hạ ở chân núi, nơi dân làng dễ đến, thường là nơi đón khách và sinh hoạt. Chùa Trung ở lưng chừng, có khi nằm trong hang. Chùa Thượng ở trên cao, nhỏ, gần đỉnh. Ba cấp nối với nhau bằng bậc đá xếp men theo sườn núi.
Bích Động là ví dụ rõ nhất. Theo tư liệu địa phương, chùa được dựng đầu thế kỷ 18 do hai thiền sư khởi lập; tên Bích Động (động xanh biếc) tương truyền do danh sĩ Nguyễn Nghiễm đặt. Chùa Hạ ở chân núi, leo lên một đoạn bậc đá là chùa Trung, toà nhà áp vào cửa hang, phía trong là lòng động thờ Phật. Từ chùa Trung có đường đi xuyên qua lòng núi và tiếp tục lên chùa Thượng. Người Ninh Bình xưa ví Bích Động là "Nam thiên đệ nhị động" (động đẹp thứ hai trời Nam), sau động Hương Tích; Địch Lộng thì được gọi là động thứ ba. Đây là cách xếp hạng truyền miệng, không phải xếp hạng chính thức.
Ở động Hương Tích, năm chữ "Nam thiên đệ nhất động" khắc ở cửa động thường được ghi là bút tích chúa Trịnh Sâm, thế kỷ 18. Những dòng chữ khắc ở cửa hang, trên vách đá như thế là nguồn sử liệu quý, cho biết ai đã đến, năm nào.
Vì sao người xưa dựng chùa trong hang, trên núi
- Truyền thống tu thiền: từ Ấn Độ sang Trung Hoa, Phật giáo có truyền thống tu trong hang đá và chùa hang. Ở Việt Nam, nhiều thiền sư chọn núi non vắng vẻ để tu, sau đó học trò, dân làng dựng chùa ở đó.
- Địa hình sẵn có: vùng núi đá vôi Ninh Bình, phía tây Hà Nội và vùng Hoà Bình cũ (nay thuộc Phú Thọ) có rất nhiều hang tự nhiên.
- Yên tĩnh và tách biệt: đường lên vất vả cũng là một phần của việc đi chùa; người đi lễ phải leo, phải chậm lại.
- Bền: chùa hang ít bị bão, lụt, mối mọt phá hủy hơn chùa gỗ đồng bằng.
Chùa trên núi ở miền Trung và miền Nam
Ở Đà Nẵng, cụm núi Ngũ Hành Sơn có nhiều động thờ Phật, trong đó động Huyền Không nổi tiếng với những lỗ trống trên trần hang để ánh sáng rọi xuống; cùng khu có chùa Tam Thai, từng là quốc tự thời Nguyễn. Ở Nam Bộ, núi Sam và núi Cấm (An Giang) có nhiều chùa trên sườn núi; núi Tà Cú (Bình Thuận cũ, nay thuộc Lâm Đồng) có chùa trên núi với lối lên dài qua rừng. Ở những nơi này, chùa thường dựng trên các mỏm đá hoặc bậc đất trên sườn núi hơn là trong hang sâu.
Góc nhìn hôm nay: đi chùa hang an toàn và giữ di tích
- Giày đế bám, đèn pin nhỏ: bậc đá trong hang thường trơn vì nước nhỏ giọt, nhiều đoạn thiếu sáng.
- Tránh ngày mưa lớn với các chùa phải leo cao; bậc đá và đường mòn dễ trượt.
- Không chạm, không bẻ nhũ đá. Nhũ đá hình thành rất chậm, và dầu từ bàn tay làm nó ngừng lớn, đổi màu. Những khối nhũ bị sờ bóng ở nhiều động là dấu vết của hàng triệu bàn tay.
- Không khắc, viết tên lên vách, kể cả bằng bút chì. Vách hang là nơi lưu giữ các bút tích cổ.
- Thắp ít hương hoặc không thắp trong lòng hang, nhất là những hang đã ám khói; hỏi người giữ chùa nơi đặt hương phù hợp.
- Đi đủ ba cấp nếu sức khoẻ cho phép: chùa Thượng nhỏ nhưng thường có tầm nhìn đẹp nhất.
Muốn tìm hiểu thêm: hồ sơ Quần thể danh thắng Tràng An (di sản thế giới UNESCO từ năm 2014, bao gồm vùng Tam Cốc – Bích Động) có nhiều thông tin về hang động và di tích; ban quản lý di tích các tỉnh Ninh Bình, Hà Nội, Phú Thọ có tài liệu giới thiệu từng điểm.
Câu hỏi thường gặp
Chùa Bích Động ở đâu?
Chùa Bích Động ở tỉnh Ninh Bình, trong vùng Tam Cốc thuộc Quần thể danh thắng Tràng An. Chùa gồm ba cấp: chùa Hạ ở chân núi, chùa Trung áp vào cửa hang và chùa Thượng trên cao. Theo tư liệu địa phương, chùa được dựng đầu thế kỷ 18.
Nam thiên đệ nhị động là động nào?
Theo cách gọi truyền miệng, "Nam thiên đệ nhị động" là Bích Động ở Ninh Bình, xếp sau động Hương Tích được gọi là "Nam thiên đệ nhất động". Động Địch Lộng ở Ninh Bình được gọi là động thứ ba. Đây là cách xếp hạng dân gian, không phải xếp hạng chính thức.
Chùa hang được xây như thế nào?
Người xưa chọn hang có cửa rộng, lòng tương đối khô, rồi xây một bức tường hoặc tiền đường nhỏ ở cửa hang. Bệ thờ xây dựa vào vách hoặc đẽo vào đá, vòm hang làm mái. Do hang ẩm, tượng thường là tượng đá hoặc đặt trong khám có mái che.
Vì sao chùa trên núi chia làm chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng?
Chùa núi trải theo sườn dốc nên các công trình được đặt ở nhiều độ cao: chùa Hạ ở chân núi để dân làng dễ đến, chùa Trung ở lưng chừng, chùa Thượng gần đỉnh. Ba cấp nối với nhau bằng bậc đá. Bích Động và chùa Hương là những ví dụ tiêu biểu.
Có nên chạm vào nhũ đá trong chùa hang không?
Không nên. Nhũ đá hình thành rất chậm, dầu từ tay người làm nó đổi màu và ngừng phát triển. Nhiều khối nhũ ở các động nổi tiếng đã bị sờ bóng vì khách chạm tay vào.