Chùa từng là trường học của người Việt theo nghĩa đen: thời Đinh – Tiền Lê – Lý, nhà sư là lớp trí thức chính và chùa là nơi học chữ; Lý Công Uẩn, người dời đô ra Thăng Long, lớn lên và học chữ trong chùa. Từ khi Nho học thắng thế (Văn Miếu năm 1070, Quốc Tử Giám năm 1076), chùa không còn là trường chính, nhưng ở làng quê, sư làng vẫn dạy chữ cho trẻ nghèo. Với đồng bào Khmer Nam Bộ, chùa đến nay vẫn là nơi dạy chữ Khmer cho thanh thiếu niên.
Bảng nhanh: chùa dạy gì qua các thời
| Thời | Chùa dạy gì | Ai học | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Đinh – Tiền Lê (thế kỷ 10) | Chữ Hán, kinh Phật, văn chương | Tăng sĩ, con em quý tộc | Nhà sư giúp triều đình việc giấy tờ, tiếp sứ |
| Lý (thế kỷ 11–12) | Chữ Hán, kinh Phật, thiền học | Tăng sĩ, hoàng tộc, người làng có điều kiện | Lý Công Uẩn học ở chùa; Văn Miếu, Quốc Tử Giám ra đời song song |
| Trần (thế kỷ 13–14) | Thiền học Trúc Lâm, kinh sách, in kinh | Tăng sĩ, vua quan tu học | Nho học mạnh dần; chùa là nơi giảng đạo và in sách |
| Lê – Nguyễn (thế kỷ 15–19) | Chữ Hán sơ học, kinh Phật | Trẻ nghèo trong làng, chú tiểu | Trường làng chủ yếu là lớp thầy đồ; chùa dạy bổ sung |
| Chùa Khmer Nam Bộ (đến nay) | Chữ Khmer, chữ Pali, đạo đức, nghề | Thanh thiếu niên nam trong phum sóc | Tục vào chùa tu học một thời gian trước khi lập gia đình |
Khi nhà sư là trí thức của nước
Sau một nghìn năm Bắc thuộc, lúc nước Đại Việt mới tự chủ, số người thông chữ Hán không nhiều, và phần lớn trong số đó là nhà sư. Các triều Đinh, Tiền Lê dùng nhà sư vào việc nước: soạn văn thư, tiếp sứ, cố vấn. Sử thiền và Đại Việt sử ký toàn thư nhắc đến các vị như Khuông Việt (Ngô Chân Lưu), Đỗ Pháp Thuận, Vạn Hạnh. Có chuyện Đỗ Pháp Thuận được cử ra tiếp sứ nhà Tống Lý Giác, hai bên đối đáp thơ; phần đối đáp ấy về sau được truyền tụng, có những chi tiết mang màu sắc giai thoại.
Muốn có người như thế, phải có nơi đào tạo. Nơi ấy chính là các chùa lớn ở vùng Kinh Bắc và quanh kinh đô Hoa Lư: chùa có kinh sách, có thầy, có đệ tử học chữ từ nhỏ.
Lý Công Uẩn: cậu bé lớn lên trong chùa
Đại Việt sử ký toàn thư chép: Lý Công Uẩn người châu Cổ Pháp (vùng Đình Bảng nay thuộc Bắc Ninh), lúc ba tuổi theo mẹ về làm con nuôi nhà sư Lý Khánh Văn ở chùa Cổ Pháp; lớn lên theo học sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ. Vạn Hạnh nhận ra tài của cậu học trò.
Câu chuyện có giá trị lớn vì nó cho thấy chùa thời ấy không chỉ dạy kinh, mà dạy cả chữ nghĩa, kiến thức đủ để một người sau này điều hành triều chính. Người sáng lập nhà Lý, người viết Chiếu dời đô năm 1010, đã học những bài đầu tiên trong một ngôi chùa làng. Những chuyện kỳ lạ quanh thời thơ ấu của ngài (điềm lạ, lời sấm) là giai thoại, truyền thuyết; phần chép về việc ở chùa và học với Vạn Hạnh thì được sử chính thống ghi lại.
Khi Nho học thành trường chính
Ngay thời Lý, nhà nước bắt đầu xây hệ thống học Nho: dựng Văn Miếu năm 1070, mở khoa thi Minh kinh bác học năm 1075, lập Quốc Tử Giám năm 1076. Sử còn chép triều Lý tổ chức thi Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) cuối thế kỷ 12, cho thấy lúc ấy ba dòng học vẫn được coi trọng song song.
Thời Trần, Phật giáo vẫn thịnh, thiền phái Trúc Lâm có vua Trần Nhân Tông đứng đầu. Chùa núi Yên Tử và các chùa lớn là nơi giảng dạy thiền học, khắc in kinh sách. Nhưng con đường làm quan đã đi qua thi cử Nho học. Sang thời Lê sơ, Nho giáo trở thành nền tảng của nhà nước; trường học chính thức là của Nho.
Từ đây, chùa thôi là trường của nước, nhưng vẫn là nơi giữ sách. Các kho ván in kinh, thư tịch Hán Nôm trong chùa là bằng chứng cho vai trò ấy kéo dài nhiều thế kỷ.
Sư làng dạy chữ: trường của trẻ nghèo
Ở làng quê thời Lê – Nguyễn, việc học chữ chủ yếu ở lớp của thầy đồ: trẻ đến nhà thầy, hoặc làng mời thầy về dạy ở đình, ở nhà ai đó. Nhưng con nhà nghèo không phải lúc nào cũng có đường vào lớp thầy đồ. Ở nhiều nơi, nhà sư trong chùa làng dạy chữ cho các chú tiểu và cho trẻ trong làng, bắt đầu từ những sách vỡ lòng.
Chú tiểu ở chùa học chữ để đọc kinh, rồi học thêm sách Nho. Không ít người từ chùa ra đã đi thi, làm thầy thuốc, làm thầy dạy học trong làng. Chùa cũng là nơi giữ nhiều văn bản chữ Nôm: các bản kinh Phật giải âm sang tiếng Việt bằng chữ Nôm là một trong những nguồn tư liệu cổ về tiếng Việt, niên đại một số bản còn đang được giới nghiên cứu bàn.
Ở Nam Bộ, nơi trường lớp còn thưa, vai trò dạy chữ của chùa xóm ấp càng rõ. Chùa vừa là nơi tu, vừa là lớp học cho trẻ trong xóm.
Chùa Khmer: trường học của phum sóc đến hôm nay
Với đồng bào Khmer theo Phật giáo Nam tông ở Nam Bộ, vai trò trường học của chùa vẫn còn rõ. Theo tục truyền thống, thanh niên nam thường vào chùa tu một thời gian trước khi lập gia đình. Trong thời gian đó, các em học chữ Khmer, chữ Pali, kinh điển, đạo đức, và cả những nghề như mộc, vẽ, đắp tượng phục vụ chùa.
Nhiều chùa Khmer mở lớp dạy chữ Khmer cho học sinh vào dịp hè, do các vị sư đứng lớp. Một số chùa cổ có tiếng gắn với việc dạy chữ từ lâu đời, như chùa Kh'leang (Sóc Trăng cũ, nay thuộc Cần Thơ). Trong phum sóc, ngôi chùa vì thế là trường học, thư viện và nơi giữ chữ viết của cộng đồng.
Đến chùa, tìm dấu vết của trường học xưa
- Kho kinh, tủ sách: hỏi nhà chùa xem còn giữ kinh sách chữ Hán, chữ Nôm hay ván in kinh không.
- Bia ghi công thầy: một số bia, tháp mộ ghi vị sư từng dạy học trò đông, có đệ tử đỗ đạt.
- Nhà giảng, giảng đường: chùa lớn có toà riêng để giảng kinh, tiền thân của lớp học.
- Chùa Cổ Pháp ở Đình Bảng: đi cùng một chuyến với đền Đô (đền thờ các vua Lý) để nối hai đầu câu chuyện: cậu bé ở chùa và vị vua sáng lập triều đại.
- Chùa Khmer mùa hè: nếu đi miền Tây vào hè, có thể thấy lớp học chữ Khmer trong sân chùa. Hỏi trước và giữ yên lặng.
Góc nhìn hôm nay
Chùa ngày nay có các trường Phật học đào tạo tăng ni, có lớp giáo lý cho Phật tử, có thư viện. Ở nhiều nơi, chùa vẫn mở lớp học tình thương, lớp chữ cho trẻ khó khăn. Đó là sự tiếp nối của một truyền thống nghìn năm: nơi thờ Phật cũng là nơi dạy người.
Muốn đọc thêm, nên tìm Đại Việt sử ký toàn thư (kỷ nhà Lý, đoạn về Lý Công Uẩn), Thiền uyển tập anh (tiểu sử các thiền sư Đinh – Lý – Trần), và các nghiên cứu về giáo dục khoa cử Việt Nam thời phong kiến. Với chùa Khmer, các khảo cứu về văn hoá Khmer Nam Bộ và hệ thống trường Pali là nguồn tốt.
Câu hỏi thường gặp
Lý Công Uẩn học ở chùa nào?
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lý Công Uẩn lúc ba tuổi làm con nuôi nhà sư Lý Khánh Văn ở chùa Cổ Pháp, lớn lên theo học thiền sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ. Cả hai chùa ở vùng Từ Sơn – Đình Bảng, nay thuộc Bắc Ninh.
Vì sao thời Lý nhà sư lại là trí thức?
Sau thời Bắc thuộc, chùa là nơi giữ kinh sách và dạy chữ Hán, nên lớp người thông chữ nghĩa phần lớn xuất thân từ nhà chùa. Các triều Đinh, Tiền Lê, Lý dùng nhà sư vào việc văn thư, tiếp sứ và cố vấn.
Khi nào trường Nho thay chùa làm nơi học chính?
Từ thời Lý, nhà nước dựng Văn Miếu năm 1070, mở khoa thi năm 1075 và lập Quốc Tử Giám năm 1076. Sang thời Lê sơ, Nho học trở thành nền tảng giáo dục chính thức, chùa thôi là trường chính.
Chùa Khmer dạy những gì?
Chùa Khmer Nam Bộ dạy chữ Khmer, chữ Pali, kinh điển và đạo đức cho thanh thiếu niên, nhất là những người vào chùa tu học một thời gian. Nhiều chùa mở lớp dạy chữ Khmer cho học sinh vào dịp hè.
Chú tiểu ở chùa xưa học gì?
Chú tiểu học chữ Hán để đọc kinh, học các nghi thức trong chùa, rồi nhiều người học thêm sách Nho. Không ít người từ chùa ra đã trở thành thầy dạy chữ, thầy thuốc hay đi thi.