Chùa ChiềnWiki
Tìm
Chùa và làng Việt

Hội chùa làng Bắc Bộ: hội Lim, hội chùa Thầy, hội chùa Dâu và nghi lễ

Hội chùa làng Bắc Bộ có phần lễ (tắm tượng, rước, tế, tụng kinh) và phần hội (quan họ, vật, rối nước): hội Lim 13 tháng Giêng, hội Thầy tháng Ba, hội Dâu 8 tháng Tư.

Hội chùa làng Bắc Bộ: hội Lim, hội chùa Thầy, hội chùa Dâu và nghi lễ

Hội chùa làng Bắc Bộ là lễ hội của cả cộng đồng diễn ra quanh một ngôi chùa, thường vào mùa xuân hoặc ngày giỗ, ngày hoá của vị Thánh được thờ trong chùa. Mỗi hội có hai phần: phần lễ (tắm tượng, rước, tế, tụng kinh) và phần hội (hát, đấu vật, cờ người, múa rối). Xưa làng tổ chức theo giáp, theo phe; nay chính quyền xã phường, ban quản lý di tích và nhà chùa cùng lo. Ba hội tiêu biểu để hiểu cả kiểu: hội Lim, hội chùa Thầy, hội chùa Dâu.

Hội chùa khác hội đình ở đâu

Làng Bắc Bộ có hội đình và hội chùa. Hội đình xoay quanh thành hoàng, có tế lễ nam giới theo thứ bậc, rước kiệu thần, đọc chúc văn. Hội chùa thì có thêm khoá lễ Phật, tụng kinh, và rất hay gắn với một vị Thánh được thờ trong chùa: bà Pháp Vân ở chùa Dâu, thiền sư Từ Đạo Hạnh ở chùa Thầy, thiền sư Không Lộ ở chùa Keo.

Trên thực tế, nhiều hội là hội chung của đình và chùa, vì đình chùa đứng cạnh nhau và cùng một làng lo. Khách đến hội thường không phân biệt, nhưng nhìn kỹ đám rước sẽ thấy: kiệu thần đi từ đình, kiệu Thánh hoặc kiệu Phật đi từ chùa.

Bảng nhanh: một số hội chùa tiêu biểu

HộiNơi diễn raThời gian (âm lịch)Nét riêng
Hội LimĐồi Lim, đình và chùa Lim, Bắc NinhChính hội 13 tháng GiêngHát quan họ trên thuyền, trong lán, trên đồi
Hội chùa ThầyChùa Thầy, núi Sài Sơn, Hà NộiKhoảng mùng 5 đến mùng 7 tháng BaMúa rối nước ở thuỷ đình, lễ Từ Đạo Hạnh
Hội chùa DâuChùa Dâu và các chùa Tứ Pháp, Bắc NinhMùng 8 tháng TưRước các bà Pháp, gắn với cầu mưa
Hội chùa LángChùa Láng (Chiêu Thiền tự), Hà NộiMùng 7 tháng BaCũng thờ Từ Đạo Hạnh, đi đôi với hội Thầy
Hội chùa Tây PhươngNúi Câu Lậu, Hà NộiMùa xuân (nên hỏi ban quản lý di tích ngày cụ thể)Khách leo bậc đá lên chùa, kết hợp xem tượng

Ngày hội nhiều nơi đã điều chỉnh theo quy định địa phương, có năm rút ngắn hay đổi chương trình. Trước khi đi nên hỏi ban quản lý di tích hoặc ủy ban xã, phường sở tại.

Phần lễ: những nghi thức nên biết để xem cho hiểu

Mộc dục: tắm tượng

Trước ngày hội, nhiều chùa làm lễ mộc dục, nghĩa là tắm rửa tượng thờ bằng nước thơm (nước ngũ vị, nước lá thơm). Việc này do người được làng chọn làm, thường là các cụ cao tuổi, đời sống gia đình đầy đủ, có khi kiêng cữ trước đó. Đây là nghi thức kín, khách thường không được xem, nhưng biết nó có tồn tại thì hiểu vì sao hôm trước hội chùa đóng cửa ban thờ.

Rước

Đám rước là phần ai cũng chờ. Kiệu được khiêng từ chùa đi một vòng làng hoặc sang một ngôi chùa, ngôi đền khác rồi quay về. Hội chùa Dâu có lễ rước các bà Pháp giữa các chùa trong hệ Tứ Pháp. Thứ tự đám rước thường là: cờ, chiêng trống, bát bửu, long đình, kiệu, rồi các đoàn người làng. Mỗi giáp, mỗi xóm đảm nhận một phần.

Tế và tụng kinh

Ở điện Thánh, làng tế theo nghi thức Nho gia: chủ tế, bồi tế, đọc chúc văn. Ở Phật điện, nhà chùa làm khoá lễ tụng kinh. Hai nghi thức có khi diễn ra cùng ngày trong cùng khuôn viên, cho thấy rõ cấu trúc "tiền Phật hậu Thần" của nhiều chùa Bắc Bộ.

Phần hội: ba kiểu vui của làng

Phần hội là chỗ người làng và khách cùng chơi. Mỗi vùng có kiểu riêng:

  • Hát: quan họ ở Kinh Bắc, hát chèo, hát trống quân. Ở hội Lim, các bọn quan họ nam và nữ hát đối đáp với nhau; Dân ca Quan họ Bắc Ninh được UNESCO ghi danh là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009.
  • Diễn xướng: múa rối nước ở thuỷ đình chùa Thầy, đấu vật, cờ người, đu tiên, thi nấu cơm, thi dệt cửi. Rối nước ở chùa Thầy gắn với truyền thuyết Từ Đạo Hạnh là ông tổ của nghề rối, một lời kể dân gian được người làng giữ gìn.
  • Chợ hội: các hàng bày bán đồ thủ công, đồ ăn quê, đồ chơi dân gian ngay quanh sân chùa.

Ai tổ chức hội chùa

Ngày xưa

Làng chia thành các giáp (tổ chức nam giới theo lứa tuổi và khu vực) hoặc các phe. Mỗi năm một giáp, một nhà được giao "đăng cai" lo cỗ, lo lễ. Hội đồng kỳ mục định ngày, định lễ; ruộng công của làng có phần dành riêng cho chi phí lễ hội. Nhà chùa lo khoá lễ Phật; làng lo tế Thánh, rước, phần hội.

Ngày nay

Thường có một ban tổ chức gồm chính quyền xã, phường, ban quản lý di tích, nhà chùa và các đoàn thể. Các giáp cũ ở nhiều nơi vẫn còn dưới dạng các phe, các xóm nhận việc rước, việc cỗ. Lễ hội lớn như hội Lim, hội chùa Thầy có sự tham gia của tỉnh, thành phố.

Hội để lại dấu trên kiến trúc chùa

Ngày thường đến chùa vẫn nhận ra được chùa ấy có hội lớn hay không, nhờ những công trình chỉ dùng mỗi năm vài ngày:

  • Thuỷ đình: nhà nhỏ dựng giữa ao hồ trước chùa, làm sân khấu múa rối nước. Thuỷ đình chùa Thầy giữa hồ Long Trì là ví dụ nổi tiếng nhất.
  • Sân rộng, gò đất: sân lát gạch trước chùa hay bãi cỏ, gò đất cạnh chùa là chỗ đấu vật, đánh cờ người, dựng cây đu. Đồi Lim là cả một ngọn đồi dành cho hội.
  • Nhà để kiệu: gian bên hoặc dãy nhà riêng cất kiệu, long đình, bát bửu. Thấy kiệu sơn son thếp vàng trùm vải đỏ là biết chùa có lễ rước.
  • Ao chùa, giếng chùa: nơi lấy nước cho lễ mộc dục, có làng còn tục rước nước từ sông về chùa trước hội.

Nhìn ra những công trình này, khách đến ngày thường vẫn hình dung được ngày hội diễn ra ở đâu, theo hướng nào.

Đi hội chùa sao cho xem được nhiều

  1. Đến hôm trước chính hội hoặc sáng sớm: được thấy nghi thức chuẩn bị, sân chùa còn vắng, dễ xem kiến trúc.
  2. Hỏi giờ rước: đứng ở đoạn đường làng hẹp gần chùa sẽ thấy đám rước rõ hơn ở cổng chính đông người.
  3. Tách phần lễ và phần hội: đừng đứng giữa đường rước để chụp ảnh, nhường lối cho kiệu.
  4. Ghi lại tên các đồ lễ: long đình, bát bửu, lọng, tàn. Những đồ này thường chỉ được mang ra một lần mỗi năm.
  5. Quay lại ngày thường: nhiều chi tiết kiến trúc, bia, tượng chỉ xem được thong thả khi không có hội.

Góc nhìn hôm nay

Hội chùa là thứ làng giữ được qua nhiều biến động. Nó cho người làng một dịp tụ lại, cho người đi xa một lý do về quê. Với người đến xem, hội là lúc ngôi chùa sống nhất: kiệu được mở, đồ thờ được bày, người làng kể chuyện. Muốn tìm hiểu kỹ hơn, có thể đọc các khảo cứu về lễ hội cổ truyền Bắc Bộ của Viện Văn hoá Nghệ thuật, các chuyên khảo về quan họ, và hồ sơ di sản của từng lễ hội ở Sở Văn hoá tỉnh, thành phố sở tại.

Câu hỏi thường gặp

Hội Lim diễn ra ngày nào?

Chính hội Lim là ngày 13 tháng Giêng âm lịch, diễn ra ở đồi Lim và quanh đình, chùa Lim, Bắc Ninh. Phần hội nổi bật nhất là hát quan họ đối đáp giữa các bọn nam và nữ.

Hội chùa Thầy có gì đặc biệt?

Hội chùa Thầy diễn ra khoảng mùng 5 đến mùng 7 tháng Ba âm lịch, gắn với thiền sư Từ Đạo Hạnh. Nét riêng là múa rối nước ở thuỷ đình giữa hồ Long Trì trước chùa.

Phần lễ và phần hội khác nhau thế nào?

Phần lễ gồm các nghi thức thiêng như tắm tượng, rước, tế Thánh và tụng kinh. Phần hội là các hoạt động vui chơi như hát quan họ, đấu vật, cờ người, múa rối và chợ hội.

Lễ mộc dục là gì?

Mộc dục là lễ tắm tượng thờ bằng nước thơm trước ngày hội, do những người được làng chọn thực hiện. Đây là nghi thức kín, nhằm làm sạch và chuẩn bị cho tượng thờ trước kỳ lễ lớn.

Hội chùa Dâu tổ chức ngày nào?

Hội chùa Dâu ở Bắc Ninh diễn ra ngày mùng 8 tháng Tư âm lịch, có lễ rước các bà Pháp trong hệ thờ Tứ Pháp. Lễ hội gắn với mong ước mưa thuận gió hoà của cư dân trồng lúa.

Mở app Chùa Chiền

Chùa Việt 3D — đi, ngồi, lạy cùng người thật

Mở app Chùa Chiền

Bài viết liên quan

Mở app Chùa Chiền

Chùa Việt 3D — đi, ngồi, lạy cùng người thật

Mở app Chùa Chiền Xem app khác