Chùa ChiềnWiki
Tìm
Chùa và làng Việt

Chùa làng Nam Bộ: chùa của xóm ấp và người khai hoang vùng đất mới

Chùa làng Nam Bộ ra đời cùng người khai hoang thế kỷ 17–18: gia đình hiến đất, xóm góp công, thỉnh thầy về giữ. Chùa dạy chữ, cho tá túc, bốc thuốc, làm nơi hội họp.

Chùa làng Nam Bộ: chùa của xóm ấp và người khai hoang vùng đất mới

Chùa làng Nam Bộ là ngôi chùa của xóm ấp, ra đời cùng lớp người khai hoang từ thế kỷ 17–18: một gia đình có đất hiến nền, bà con trong xóm góp cột, góp lá cất chùa, rồi thỉnh một vị thầy về giữ. Khác chùa làng Bắc Bộ vốn do hội đồng làng nắm, chùa Nam Bộ thường gắn với một vị thầy và dòng truyền thừa của thầy, còn trung tâm hành chính – tín ngưỡng của làng là ngôi đình. Chùa làm thêm nhiều việc của vùng đất mới: dạy chữ, cho khách tá túc, bốc thuốc, làm nơi bà con hội họp.

Chùa đi cùng người khai hoang

Từ cuối thế kỷ 17, lưu dân từ vùng Thuận Quảng vào khai phá đất Đồng Nai – Gia Định. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý, lập phủ Gia Định; các làng người Việt hình thành dọc sông rạch. Đi cùng lưu dân có các nhà sư, phần đông thuộc dòng Lâm Tế đã truyền ở Đàng Trong.

Chùa đầu tiên của một xóm thường rất đơn sơ: mái lá, vách ván, cột gỗ rừng. Khi làng khá lên, chùa được cất lại bằng gỗ quý, lợp ngói. Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, soạn đầu thế kỷ 19, ghi lại nhiều ngôi chùa đã có tiếng ở Gia Định lúc ấy, cho thấy chỉ trong khoảng một thế kỷ, chùa đã có mặt khắp vùng đất mới. Năm lập của nhiều chùa Nam Bộ có nhiều bản khác nhau, nên khi đọc nên ghi "khoảng", "theo tư liệu của chùa".

Ai dựng, ai giữ: khác Bắc Bộ ở đâu

Khía cạnhChùa làng Bắc BộChùa xóm ấp Nam Bộ
Người lậpCả làng, qua hội đồng kỳ mụcMột gia đình hiến đất hoặc một vị thầy khai sơn, bà con trong xóm góp sức
Quyền giữ chùaLàng mời sư, có thể đổi thầyThường truyền từ thầy sang đệ tử theo dòng truyền thừa
Nuôi chùaRuộng Tam bảo của làngRuộng, vườn do thí chủ cúng; lòng hảo tâm của bà con
Trung tâm của làngĐình và chùa cùng có vai trò lớnĐình là trung tâm hành chính – tín ngưỡng; chùa là nơi tu học và cứu giúp
Kiến trúc thường gặpChữ Đinh, chữ Công, nội công ngoại quốcNhà chữ Đinh, nhiều dãy nhà nối nhau, cột gỗ quý, hoành phi sơn son

Vì đi theo dòng thầy, chùa Nam Bộ hay có nhà Tổ thờ liên tục các đời trụ trì và vườn tháp nhỏ phía sau. Đọc bài vị nhà Tổ là đọc được chùa thuộc dòng nào, truyền được bao nhiêu đời.

Những việc chùa xóm ấp từng gánh

Trường học

Ở vùng đất mới, trường lớp ít, thầy đồ hiếm. Nhà chùa là nơi có người biết chữ Hán, có kinh sách. Nhiều chùa dạy chữ cho trẻ trong xóm, dạy cả người lớn muốn đọc được văn tự ruộng đất, giấy tờ. Chùa lớn còn là nơi đào tạo tăng sĩ, có thầy giỏi thì đệ tử khắp vùng về học.

Nơi tá túc

Đường sá xa, sông rạch chằng chịt. Khách buôn, người đi tìm đất, học trò đi thi có thể xin ngủ nhờ ở chùa. Chùa có nhà khách, có cơm chay, là trạm nghỉ của những người đi đường.

Phòng thuốc

Vùng đất mới nhiều bệnh, ít thầy thuốc. Không ít nhà sư biết thuốc nam, bốc thuốc cho bà con. Vườn chùa thường trồng cây thuốc. Truyền thống này còn kéo dài ở nhiều chùa Nam Bộ dưới dạng phòng thuốc nam, phòng chẩn trị từ thiện.

Nơi hội họp và cứu giúp

Khi lũ lụt, mất mùa, chùa là nơi bà con tụ lại, nhà chùa nấu cháo, phát gạo. Ngày rằm lớn, nhất là rằm tháng Giêng và rằm tháng Bảy, chùa đông như hội, người cả xóm về.

Bên trong một ngôi chùa xóm ấp: nhìn gì

Chùa làng Nam Bộ có một số nét nhận ra ngay:

  • Nhà nối nhà: chánh điện, nhà giảng, nhà Tổ, nhà trai nối nhau thành dãy dài, thường bố cục chữ Đinh hoặc nhiều dãy song song, mái thấp, hiên rộng tránh nắng mưa.
  • Cột gỗ quý: cột căm xe, gõ, sao, đường kính lớn, có khi khắc câu đối thẳng lên thân cột hoặc treo liễn sơn son thếp vàng.
  • Hoành phi, liễn đối: rất nhiều, phần lớn do thí chủ cúng, có ghi tên người cúng và năm cúng.
  • Ban thờ đặc trưng: ngoài Phật điện, chùa Nam Bộ hay có ban Hộ pháp, ban Tiêu Diện (vị cai quản cô hồn, gắn với lễ rằm tháng Bảy), ban Quan Thánh, và ở nhiều chùa có tranh hoặc tượng Thập điện Diêm vương.
  • Tên chùa: nhiều chùa có tên chữ bắt đầu bằng "Phước", "Huê", phản ánh cách đọc riêng của Nam Bộ mà nhiều người giải thích là do kỵ huý thời Nguyễn. Dân trong xóm thì hay gọi chùa bằng tên nôm theo địa thế: chùa Gò, chùa Cây Mai, hoặc theo tên người khai sơn.

Đình và chùa ở xóm ấp Nam Bộ

Ở Nam Bộ, đình là nơi thờ Thành hoàng bổn cảnh, giữ sắc thần, tổ chức lễ Kỳ Yên hằng năm, là nơi ban hội hương chức trong làng làm việc. Chùa thì đứng ngoài bộ máy hành chính ấy, là nơi tu học và cứu giúp. Hai thiết chế bổ sung nhau: người làng đi đình theo nghĩa vụ làng, đi chùa theo tâm nguyện riêng.

Vùng đất Nam Bộ còn có chùa Khmer của đồng bào Khmer theo Phật giáo Nam tông, chùa và hội quán của người Hoa, tịnh xá của hệ phái Khất sĩ, và những nơi tu tập của các hệ phái nội sinh ở vùng Bảy Núi. Mỗi loại có câu chuyện riêng. Bài này chỉ nói về chùa Bắc tông của người Việt trong xóm ấp.

Góc nhìn hôm nay

Nhiều chùa xóm ấp xưa nay đã ở giữa phố, như các chùa cổ trong lòng TP.HCM. Nhiều chùa khác vẫn nằm giữa ruộng vườn miền Tây, mái ngói rêu phong, cột gỗ bóng lên vì tay người qua lại. Những ngôi chùa như Giác Lâm, Giác Viên ở TP.HCM, Hội Khánh ở Thủ Dầu Một cũ (nay thuộc TP.HCM), Vĩnh Tràng ở Mỹ Tho (nay thuộc Đồng Tháp) cho thấy chùa xóm ấp lớn lên thành tổ đình của cả vùng ra sao.

Khi đến một chùa làng Nam Bộ, hãy hỏi ba điều: ai hiến đất lập chùa, chùa truyền được mấy đời thầy, và chùa từng làm gì cho xóm. Câu trả lời thường là một đoạn lịch sử khai hoang thu nhỏ. Sách nên đọc: Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức), các khảo cứu về Phật giáo và đình làng Nam Bộ, và Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang cho phần các dòng thiền vào Nam.

Câu hỏi thường gặp

Chùa làng Nam Bộ có từ khi nào?

Chùa làng Nam Bộ xuất hiện cùng lớp người khai hoang từ cuối thế kỷ 17 và trong thế kỷ 18. Đầu thế kỷ 19, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức đã ghi nhiều ngôi chùa có tiếng ở vùng Gia Định.

Chùa Nam Bộ khác chùa Bắc Bộ thế nào về người giữ chùa?

Chùa làng Bắc Bộ do làng làm chủ và mời sư về trụ trì. Chùa Nam Bộ thường do một gia đình hiến đất hoặc một vị thầy khai sơn, quyền giữ chùa truyền từ thầy sang đệ tử theo dòng truyền thừa.

Đình và chùa ở Nam Bộ khác nhau ra sao?

Đình Nam Bộ thờ Thành hoàng bổn cảnh, giữ sắc thần, tổ chức lễ Kỳ Yên và là nơi hương chức làm việc. Chùa thờ Phật, là nơi tu học, dạy chữ, bốc thuốc và cứu giúp bà con.

Ông Tiêu Diện trong chùa Nam Bộ là ai?

Tiêu Diện Đại sĩ là vị được thờ trong nhiều chùa Nam Bộ với vai trò cai quản cô hồn. Ban thờ hoặc tượng Tiêu Diện được chú ý nhất vào dịp rằm tháng Bảy.

Vì sao nhiều chùa Nam Bộ có tên bắt đầu bằng chữ Phước?

"Phước" là cách đọc Nam Bộ của chữ "Phúc", nhiều người giải thích là do kỵ huý thời Nguyễn. Tương tự, "Hoa" thường đọc là "Huê", nên gặp các tên chùa như Phước Hải, Phước Long, Huê Nghiêm.

Mở app Chùa Chiền

Chùa Việt 3D — đi, ngồi, lạy cùng người thật

Mở app Chùa Chiền

Bài viết liên quan

Mở app Chùa Chiền

Chùa Việt 3D — đi, ngồi, lạy cùng người thật

Mở app Chùa Chiền Xem app khác