Chùa đi vào thơ cổ Việt Nam theo ba dòng lớn: thơ thiền Lý – Trần do chính các thiền sư, vua quan tu Phật viết; thơ của nhà nho ở chùa như Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi; và thơ Nôm dân tộc như thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều, Hương Sơn phong cảnh ca. Mỗi dòng nhìn chùa một kiểu: nơi ngộ đạo, nơi ẩn cư, hay một cảnh đời có người có chuyện. Đọc vài câu trước khi đến một ngôi chùa cổ sẽ thấy nó khác hẳn.
Bảng nhanh: chùa trong thơ cổ, ai viết, ở đâu
| Tác giả | Thời | Bài, câu tiêu biểu | Gắn với chùa, núi |
|---|---|---|---|
| Vạn Hạnh | Tiền Lê – Lý | Thị đệ tử | Chùa Lục Tổ (vùng Bắc Ninh nay) |
| Không Lộ | Lý | Ngôn hoài | Chùa Keo và các chùa vùng ven sông |
| Mãn Giác | Lý | Cáo tật thị chúng | Viết cho đệ tử trong chùa |
| Trần Nhân Tông | Trần | Sơn phòng mạn hứng | Am thất trên núi Yên Tử |
| Nguyễn Trãi | Đầu Lê | Côn Sơn ca | Chùa Côn Sơn (nay thuộc Hải Phòng) |
| Hồ Xuân Hương | Cuối Lê – đầu Nguyễn | Chùa Quán Sứ, Kiếp tu hành | Chùa Quán Sứ, Hà Nội |
| Nguyễn Du | Đầu Nguyễn | Truyện Kiều, đoạn Quan Âm các | Chùa trong truyện, không phải chùa thật |
| Chu Mạnh Trinh | Cuối Nguyễn | Hương Sơn phong cảnh ca | Chùa Hương, Hà Nội |
Thơ thiền Lý – Trần: chùa là nơi ngộ
Thơ thiền thời Lý – Trần phần lớn viết bằng chữ Hán, nhiều bài được chép trong Thiền uyển tập anh, sách ghi tiểu sử các thiền sư. Những bài ấy không tả kiến trúc chùa mà tả cái tâm của người trong chùa.
Vạn Hạnh: thân như bóng chớp
Thiền sư Vạn Hạnh, người thầy của Lý Công Uẩn theo sử chép, để lại bài Thị đệ tử (Dặn học trò) mở đầu bằng câu:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô,
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
Đại ý: thân người như bóng chớp, có rồi lại không; cây cỏ mùa xuân tươi, mùa thu lại khô. Hai câu nói chuyện vô thường bằng hình ảnh của người nông dân: cây cối theo mùa.
Không Lộ: tiếng hú trên đỉnh núi
Bài Ngôn hoài (Tỏ lòng) được chép là của thiền sư Không Lộ:
Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư.
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
Đại ý: chọn được đất rồng rắn để ở, tình quê vui suốt ngày; có lúc lên thẳng đỉnh núi cô độc, hú một tiếng dài làm lạnh cả bầu trời. Câu cuối được coi là một trong những câu thơ khoáng đạt nhất của thơ thiền Việt.
Mãn Giác: một cành mai
Bài Cáo tật thị chúng (Có bệnh bảo mọi người) của thiền sư Mãn Giác kết bằng hai câu thuộc loại nổi tiếng nhất thơ Lý:
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Đại ý: chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua trước sân một cành mai. Bài viết khi thầy sắp mất, dặn học trò rằng sự sống không dứt. "Sân" ở đây là sân chùa.
Trần Nhân Tông: ai trói mà tìm cởi
Vị vua xuất gia ở Yên Tử viết trong Sơn phòng mạn hứng (Cảm hứng trong phòng núi):
Thuỳ phược cánh tương cầu giải thoát,
Bất phàm hà tất mịch thần tiên.
Đại ý: ai trói buộc mình mà phải tìm giải thoát; đã không phàm tục thì cần gì tìm thần tiên. Đây là giọng của thiền phái Trúc Lâm: không đi tìm ở đâu xa, tự tâm mình là đủ.
Nhà nho ở chùa: Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi
Côn Sơn là nơi thiền sư Huyền Quang, tổ thứ ba Trúc Lâm, tu và mất; cũng là nơi Nguyễn Trãi về ẩn cư. Bài Côn Sơn ca viết bằng chữ Hán, mở đầu:
Côn Sơn hữu tuyền,
Kỳ thanh linh linh nhiên,
Ngô dĩ vi cầm huyền.
Bản dịch thơ quen thuộc trong sách giáo khoa: "Côn Sơn suối chảy rì rầm / Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai." Tiếp theo là đá, thông, trúc của Côn Sơn. Bài thơ không tả chùa Côn Sơn trực tiếp, nhưng cả khung cảnh là cảnh chùa núi: người đọc đến Côn Sơn hôm nay vẫn tìm được suối, đá, rừng thông trên lối lên.
Điều đáng để ý: Nguyễn Trãi là nhà nho, nhưng chọn ở ẩn trong một không gian Phật giáo. Ranh giới Nho – Phật thời ấy không cứng; chùa núi là nơi người trí thức tìm sự yên tĩnh.
Thơ Nôm: chùa có người, có chuyện
Hồ Xuân Hương: tiếng cười ở chùa Quán Sứ
Thơ Nôm truyền tụng là của Hồ Xuân Hương có nhiều bài về chùa và người tu. Bài Chùa Quán Sứ mở đầu:
Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo.
Bài Kiếp tu hành mở bằng "Cái kiếp tu hành nặng đá đeo". Giọng thơ châm biếm, tinh nghịch, nhắm vào những người tu không thật lòng chứ không nhắm vào đạo Phật. Bài Chùa Hương của bà nổi tiếng với lối tả cảnh hai nghĩa. Nên nhớ: văn bản thơ Hồ Xuân Hương chủ yếu là thơ truyền tụng, một số bài còn tranh cãi về tác giả. Chùa Quán Sứ trong thơ bà là ngôi chùa cũ; toà chùa ở phố Quán Sứ ngày nay được dựng lại vào thập niên 1940.
Nguyễn Du: Kiều ở Quan Âm các
Trong Truyện Kiều, Kiều từng ra ở Quan Âm các trong vườn nhà Hoạn Thư, chép kinh, và sau đó nương nhờ cửa Phật. Câu tả những ngày ấy:
Phật tiền thảm lấp sầu vùi,
Ngày pho thủ tự, đêm nồi tâm hương.
"Thủ tự" là chép kinh bằng tay, "tâm hương" là nén hương lòng. Chùa trong Truyện Kiều là chùa trong truyện, nhưng nếp sinh hoạt (chép kinh, thắp hương, tụng niệm) là nếp thật của chùa Việt xưa.
Chu Mạnh Trinh: "Bầu trời cảnh Bụt"
Bài hát nói Hương Sơn phong cảnh ca cuối thế kỷ 19 mở bằng câu: "Bầu trời cảnh Bụt / Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay." Chữ "cảnh Bụt" gặp lại tinh thần câu tục ngữ "phong cảnh Bụt": cảnh đẹp của chùa là của chung, ai đến cũng được hưởng.
Đọc thơ trước khi đến chùa
- Đi Côn Sơn: mang theo Côn Sơn ca, tìm suối, đá, thông trên lối lên Thạch Bàn.
- Đi Yên Tử: đọc vài bài thơ của Trần Nhân Tông trước, rồi xem các am thất trên đường lên.
- Đi chùa Quán Sứ: đọc bài thơ Hồ Xuân Hương, rồi nhìn toà chùa thập niên 1940 để thấy hai lớp thời gian.
- Đi chùa Hương: đọc Hương Sơn phong cảnh ca trên thuyền suối Yến.
Góc nhìn hôm nay
Thơ cổ về chùa cho thấy ngôi chùa xưa không chỉ là nơi lễ bái: đó là nơi người ta suy nghĩ về sống chết, nơi trí thức ẩn cư, nơi người bình dân trêu nhau. Muốn đọc kỹ, nên tìm bộ Thơ văn Lý – Trần do Viện Văn học biên soạn (có nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa), Thiền uyển tập anh, Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi, và các tuyển tập thơ Nôm Hồ Xuân Hương có chú giải văn bản.
Câu hỏi thường gặp
Bài thơ "Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận" của ai?
Hai câu "Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận / Đình tiền tạc dạ nhất chi mai" thuộc bài Cáo tật thị chúng của thiền sư Mãn Giác thời Lý. Bài viết khi thầy sắp mất, dặn đệ tử rằng sự sống không dứt như cành mai vẫn nở khi xuân tàn.
Côn Sơn ca nói về chùa nào?
Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi tả cảnh núi Côn Sơn, nơi có chùa Côn Sơn (Thiên Tư Phúc tự), nay thuộc Hải Phòng. Bài thơ tả suối, đá, thông, trúc quanh chùa chứ không tả kiến trúc chùa.
Hồ Xuân Hương có bài thơ nào về chùa?
Thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương có các bài Chùa Quán Sứ, Kiếp tu hành, Chùa Hương. Giọng thơ châm biếm người tu không thật lòng; một số bài còn tranh cãi về tác giả.
Thơ thiền Lý – Trần đọc ở đâu?
Nguồn đầy đủ nhất là bộ Thơ văn Lý – Trần của Viện Văn học, có nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch. Nhiều bài cũng có trong Thiền uyển tập anh và sách giáo khoa văn học.
"Bầu trời cảnh Bụt" là câu thơ của ai?
Đó là câu mở đầu bài hát nói Hương Sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Trinh, viết cuối thế kỷ 19 về chùa Hương. Câu tiếp theo là "Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay".