Chùa và làng nghề Việt gắn với nhau theo hai chiều: làng nghề làm ra chùa (thợ mộc dựng khung, thợ đúc đúc chuông và tượng, thợ gốm làm đồ thờ, thợ tạc làm tượng) và chùa giữ ký ức cho làng nghề (thờ tổ nghề, khắc tên thợ, làm nơi làng nghề tụ hội). Ví dụ rõ nhất là chùa Ngũ Xã bên hồ Trúc Bạch ở Hà Nội, nơi làng đúc đồng tự đúc pho tượng Phật lớn cho chùa của mình giữa thế kỷ 20.
Chùa Ngũ Xã: làng đúc đồng đúc tượng cho chính mình
Làng Ngũ Xã nằm bên hồ Trúc Bạch, nay thuộc Hà Nội. "Ngũ Xã" nghĩa là năm làng. Theo lời kể truyền lại, thợ đúc đồng từ năm làng nghề vùng Kinh Bắc (nay thuộc Bắc Ninh) được gọi về kinh đô làm việc từ thời Lê, rồi ở lại lập thành làng mới mang tên Ngũ Xã. Làng chuyên đúc đồ đồng: chuông, khánh, lư hương, tượng, đồ gia dụng.
Điểm làm chùa Ngũ Xã nổi tiếng là pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng ngồi trên toà sen, do chính thợ làng đúc trong khoảng 1949–1952. Theo tư liệu thường dẫn, tượng cao gần 4 m, nặng khoảng 10 tấn, thuộc loại tượng đồng lớn nhất Việt Nam thời ấy. Làng đúc tượng không phải theo đơn đặt hàng mà như một lời khẳng định tay nghề: tượng đặt ngay trong chùa làng mình, ai đến cũng thấy.
Theo tục của làng, Ngũ Xã thờ thiền sư Nguyễn Minh Không thời Lý như tổ nghề đúc đồng. Chuyện thiền sư dạy nghề đúc là lời kể dân gian; điều chắc chắn là người làng đã chọn một vị sư làm tổ, và chọn đặt niềm tự hào nghề nghiệp vào ngôi chùa.
Vì sao thiền sư lại thành tổ nghề
Ở nhiều làng nghề Bắc Bộ, tổ nghề được thờ ở đình. Nhưng có một nhóm tổ nghề là thiền sư, được thờ ở chùa hoặc ở cả đình lẫn chùa:
| Thiền sư | Nghề được gắn | Nơi thờ tiêu biểu | Tính chất tư liệu |
|---|---|---|---|
| Nguyễn Minh Không, Dương Không Lộ | Đúc đồng | Một số làng đúc đồng, chùa Ngũ Xã | Truyền thuyết về việc đi xin đồng, đúc "tứ đại khí" |
| Từ Đạo Hạnh | Múa rối nước | Chùa Thầy, Hà Nội | Lời kể dân gian của làng rối |
| Tuệ Tĩnh | Thuốc nam | Đền Bia và nhiều nơi khác | Danh y – thiền sư, tác phẩm y học còn lưu; niên đại còn bàn |
Lý do dễ hiểu: thời Lý – Trần, nhà sư là người có học, đi nhiều, tiếp xúc nhiều kỹ thuật. Dân gian quy công sáng lập nghề về những người thầy ấy. Truyền thuyết "An Nam tứ đại khí" kể bốn công trình, đồ vật lớn của Đại Việt (tháp Báo Thiên, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh) gắn với công một thiền sư; tuỳ bản kể là Không Lộ hay Minh Không. Các vật ấy có ghi trong sách xưa, còn chuyện thiền sư hoá phép lấy đồng là truyền thuyết. Cả bốn vật nay đều không còn.
Làng nghề làm ra ngôi chùa như thế nào
Một ngôi chùa cổ Bắc Bộ là tác phẩm chung của nhiều làng nghề.
Thợ mộc: dựng khung
Bộ khung gỗ chùa do phường thợ mộc dựng. Xứ Đoài có làng mộc Chàng Sơn (Thạch Thất), xứ Nam có nhiều phường mộc nổi tiếng. Thợ đi theo phường, nhận dựng đình chùa cả vùng. Ở miền Trung, thợ mộc Kim Bồng (Hội An) dựng nhiều nhà cổ, hội quán, chùa quanh phố cổ. Phường thợ ít khi để lại tên trên công trình, nhưng đôi khi có dòng chữ ghi năm dựng, tên người đứng đầu phường trên xà nóc.
Thợ tạc tượng, sơn thếp
Tượng gỗ sơn thếp trong chùa thường do các làng chuyên tạc tượng làm. Làng Sơn Đồng (Hoài Đức, Hà Nội) nổi tiếng nghề tạc tượng và làm đồ thờ, sơn son thếp vàng; ở Hải Phòng có làng Bảo Hà vừa tạc tượng vừa làm rối. Khi chùa tu sửa, người làng thường đến các làng này đặt tượng mới hoặc nhờ sơn lại tượng cũ.
Thợ đúc: chuông, khánh, lư hương
Chuông chùa là sản phẩm của làng đúc. Ngoài Ngũ Xã còn có các làng đúc ở Kinh Bắc, và ở Huế có Phường Đúc, nơi các lò đúc đồng phục vụ triều Nguyễn và làm chuông, đồ thờ cho chùa. Minh văn trên chuông thường ghi năm đúc, tên chùa, tên người công đức; đôi khi có cả tên thợ cả.
Thợ gốm: đồ thờ có chữ
Làng gốm Bát Tràng để lại nhiều chân đèn, lư hương men lam thế kỷ 16 có minh văn ghi năm làm, tên người cúng, tên chùa được cúng, và đôi khi tên thợ. Đây là nguồn tư liệu quý: một cây chân đèn cho biết cùng lúc lịch sử làng gốm, lịch sử ngôi chùa và tên một gia đình mộ đạo.
Thợ giấy, thợ khắc
Giấy dó của các làng ven Hồ Tây như Yên Thái dùng để in kinh, viết sớ. Ván in kinh trong chùa do các làng khắc ván làm; nghề này có những làng tổ riêng ở xứ Đông.
Chùa giữ gì cho làng nghề
- Tên người: bia công đức và minh văn đồ thờ ghi tên thợ, tên phường, tên người góp. Nhiều làng nghề chỉ còn biết tổ tiên mình làm nghề từ bao giờ nhờ một tấm bia chùa.
- Hiện vật mẫu: pho tượng, quả chuông, cây chân đèn trong chùa là sản phẩm tốt nhất của nghề, được giữ lâu hơn mọi thứ bán ra chợ.
- Nơi tụ hội: ngày giỗ tổ nghề, thợ trong làng và thợ đi làm xa về tụ ở đình, chùa, dâng lễ, bàn chuyện nghề.
- Uy tín: làng đúc được chuông cho chùa lớn, làng tạc được tượng cho chùa nổi tiếng thì tiếng tăm nghề lan xa.
Xem chùa làng nghề: tìm gì
- Minh văn trên chuông: tìm dòng chữ ghi năm đúc và người đúc, thường ở thân chuông giữa các ô.
- Đáy hoặc thân đồ gốm thờ: chân đèn, lư hương có chữ là hiện vật quý, chỉ nhìn, không chạm.
- Xà nóc: nhìn lên câu ghi năm dựng, đôi khi có tên phường thợ.
- Ban thờ tổ nghề: hỏi người giữ chùa xem chùa có thờ tổ nghề không, ngày giỗ tổ vào hôm nào.
- Làng nghề quanh chùa: đi thêm một vòng làng, nhiều nơi vẫn còn xưởng đúc, xưởng tạc đang làm.
Góc nhìn hôm nay
Nhiều làng nghề cổ đã đổi khác: Ngũ Xã nay là phố, lò đúc trong làng gần như không còn; nhiều làng mộc chuyển sang làm đồ gỗ dân dụng. Nhưng ngôi chùa vẫn giữ lại phần tốt nhất của nghề. Đến chùa Ngũ Xã, đứng trước pho tượng đồng, có thể hình dung cả một làng thợ dồn sức trong mấy năm để đúc một vật cho chính mình.
Muốn tìm hiểu thêm, có thể xem các bộ sưu tập đồ đồng, đồ gốm có minh văn ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (Hà Nội), đọc các khảo cứu về làng nghề thủ công Bắc Bộ, và tra minh văn chuông, bia trong bộ thác bản văn khắc Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Câu hỏi thường gặp
Chùa Ngũ Xã có gì đặc biệt?
Chùa Ngũ Xã bên hồ Trúc Bạch, Hà Nội có pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng do chính thợ làng đúc đồng Ngũ Xã đúc khoảng 1949–1952. Theo tư liệu thường dẫn, tượng cao gần 4 m, nặng khoảng 10 tấn.
Vì sao làng Ngũ Xã có tên như vậy?
"Ngũ Xã" nghĩa là năm làng. Theo lời kể truyền lại, thợ đúc đồng từ năm làng nghề vùng Kinh Bắc lên kinh đô làm việc từ thời Lê rồi lập thành làng mới, gọi là Ngũ Xã.
Tổ nghề đúc đồng là ai?
Theo truyền thuyết và tục thờ của nhiều làng, tổ nghề đúc đồng là thiền sư thời Lý, thường được kể là Nguyễn Minh Không hoặc Dương Không Lộ. Chuyện thiền sư xin đồng, đúc "tứ đại khí" là truyền thuyết dân gian.
An Nam tứ đại khí là gì?
Đó là bốn vật lớn của Đại Việt thường được kể gồm tháp Báo Thiên, tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh. Cả bốn đều đã mất, chỉ còn trong sách xưa và truyền thuyết.
Chân đèn gốm Bát Tràng trong chùa quý ở chỗ nào?
Nhiều chân đèn, lư hương gốm Bát Tràng thế kỷ 16 có minh văn ghi năm làm, tên người cúng, tên chùa và đôi khi tên thợ. Nhờ đó chúng vừa là đồ thờ vừa là tư liệu lịch sử về làng gốm và ngôi chùa.