Chùa ChiềnWiki
Tìm
Kiến trúc chùa Việt

Kiến trúc chùa Huế: nhà rường, bình phong, hồ bán nguyệt khác chùa Bắc

Chùa Huế dùng nhà rường kiểu nhà kép, bố cục chữ Khẩu quây sân giữa, có bình phong và hồ bán nguyệt, mái thoải khảm sành sứ, nằm trong vườn trên đồi thông.

Kiến trúc chùa Huế: nhà rường, bình phong, hồ bán nguyệt khác chùa Bắc

Chùa Huế khác chùa Bắc Bộ ở bốn điểm dễ thấy: chính điện là nhà rường (bộ khung gỗ kiểu Huế với kèo, trính, xuyên), thường làm kiểu nhà kép hai mái nối liền; các toà quây quanh một sân giữa theo bố cục chữ Khẩu (口); trước chùa thường có bình phong và hồ bán nguyệt; mái thoải, bờ mái gần như thẳng, đầu đao chỉ hơi vểnh, lợp ngói nhỏ và trang trí khảm sành sứ. Chùa Huế cũng thường nằm trong một khu vườn rộng trên đồi thông, nên cảm giác như vào một ngôi nhà vườn hơn là một khối kiến trúc giữa làng.

So sánh nhanh chùa Huế và chùa Bắc Bộ

Đặc điểmChùa Bắc BộChùa Huế
Bố cụcChữ Đinh, chữ Công, nội công ngoại quốc theo trục dọcChữ Khẩu quây quanh sân giữa, hoặc chính điện đứng giữa vườn
Chính điệnTiền đường – thiêu hương – thượng điệnNhà rường, thường là nhà kép hai mái nối liền
MáiDốc, đầu đao cong mạnhThoải, bờ mái gần thẳng, đầu đao vểnh nhẹ
Trang trí máiVữa đắp, gạch hoaKhảm sành sứ, hồ lô, lưỡng long
Trước chùaSân, ao làng, tam quan gỗCổng xây, bình phong, hồ bán nguyệt
Tượng thờNhiều hàng, có khi hàng trăm phoNhìn chung ít tượng, bài trí giản dị hơn
Khung cảnhGiữa làng, cạnh đình, chợTrên đồi, giữa vườn và rừng thông

Nhà rường: bộ khung của xứ Huế

"Nhà rường" là cách người Huế gọi kiểu nhà có bộ khung gỗ hoàn chỉnh, ráp mộng, dựng trên chân tảng, giống tinh thần nhà gỗ Bắc Bộ nhưng có thuật ngữ và tỉ lệ riêng. Các bộ phận hay nghe nhất:

  • Trính: thanh gỗ ngang lớn nối đầu hai cột cái, tương đương câu đầu ở Bắc Bộ.
  • Xuyên: những thanh gỗ xuyên qua thân cột để giằng các cột với nhau.
  • Kèo: thanh gỗ xiên đỡ mái, chạy từ đầu cột cái xuống cột quân và ra hiên.
  • Đòn tay: thanh gỗ chạy dọc nhà đỡ rui, tương đương hoành ở Bắc Bộ.

Nhà rường thường tính theo gian và chái: "ba gian hai chái" là kiểu rất phổ biến, ba gian giữa và hai chái ở hai đầu hồi. Gỗ dùng làm nhà rường Huế thường là các loại gỗ tốt miền Trung như kiền kiền, mít, lim. Trên các bộ phận gỗ, thợ Huế chạm nhẹ, tinh, ít khi chạm dày đặc như đình chùa Bắc Bộ.

Nhà kép, "trùng thiềm điệp ốc"

Nhiều chính điện chùa Huế, nhất là các quốc tự, làm theo kiểu nhà kép mà sách vở gọi là "trùng thiềm điệp ốc" (thềm chồng, nhà xếp lớp): hai ngôi nhà rường đặt sát nhau trên cùng một nền, nối mái bằng một máng xối chung. Nhà trước là tiền điện, nhà sau là chính điện. Kiểu này cũng gặp nhiều trong cung điện Huế. Nhờ hai nhà nối mái, lòng chính điện rộng mà mái vẫn không phải quá cao, hợp với vùng có bão.

Bố cục chữ Khẩu và sân thiên tỉnh

Nhiều chùa Huế được tổ chức theo hình chữ Khẩu (口), nghĩa là một hình vuông: chính điện ở phía trước, nhà Tổ ở phía sau, hai bên là hai dãy nhà Đông và nhà Tây (nơi ở của tăng chúng, nhà khách, nhà trai). Bốn toà quây quanh một khoảng sân lộ thiên ở giữa, gọi là sân thiên tỉnh (giếng trời). Sân này thường đặt bể cạn, non bộ, chậu cây.

So với Bắc Bộ, bố cục này kín và ấm cúng hơn, sinh hoạt của chùa xoay quanh sân giữa. Từ ngoài nhìn vào chỉ thấy chính điện và cổng, phần còn lại khuất phía sau. Đây là lý do khách đi chùa Huế hay có cảm giác chùa nhỏ, trong khi thật ra khuôn viên có thể rất rộng.

Trước chùa: cổng, bình phong, hồ bán nguyệt

Cổng xây

Cổng chùa Huế thường là cổng xây gạch, có trụ biểu, mái nhỏ hoặc cổng vòm có lầu, khác với tam quan gỗ của Bắc Bộ. Mặt cổng đắp chữ Hán, câu đối, có khi khảm sành sứ.

Bình phong

Bình phong là bức tường đứng riêng, đặt giữa cổng và chính điện hoặc trước sân, chắn tầm nhìn thẳng từ ngoài vào. Mặt bình phong thường đắp nổi long mã, hổ, cây tùng, chữ Phật, hoặc khảm mảnh sành sứ. Theo quan niệm xưa, bình phong ngăn luồng khí xấu đi thẳng vào nhà; về mặt kiến trúc, nó tạo một nhịp dừng, buộc người vào phải rẽ sang hai bên rồi mới tới sân chính điện.

Hồ bán nguyệt

Nhiều chùa Huế có hồ hình nửa vầng trăng ở trước cổng hoặc trước sân, trồng sen. Chùa Từ Hiếu là ví dụ dễ thấy nhất với hồ bán nguyệt ngay trước tam quan, bên rừng thông. Hồ vừa là cảnh quan, vừa giữ nước cho khu vườn, vừa là nơi phản chiếu hình cổng chùa. Hình bán nguyệt cũng gặp nhiều ở các công trình cung đình và lăng tẩm Huế, nên có thể coi đây là một nét chung của kiến trúc Huế, không riêng chùa.

Mái chùa Huế

Mái chùa Huế thoải hơn, bờ mái gần như thẳng, đầu đao vểnh nhẹ chứ không cong vút. Nhiều người giải thích đây là cách thích nghi với gió bão miền Trung: mái thấp, ít đua ra, ít chỗ cho gió hút. Mái thường lợp ngói nhỏ đất nung xếp nhiều lớp dày (người Huế quen gọi ngói liệt), hoặc ngói âm dương, có lớp vữa giữ ở bờ.

Trên nóc, đề tài hay gặp là hồ lô ở giữa, lưỡng long chầu hai bên, các đầu đao đắp rồng hoặc phượng. Lối khảm sành sứ, gắn mảnh chén bát men xanh trắng lên các hình đắp, làm cho mái chùa Huế lấp lánh dưới nắng.

Chùa trong vườn

Một nét khó tả bằng bản vẽ: chùa Huế nằm trong khu vườn. Rất nhiều chùa ở vùng đồi phía tây nam Huế (Từ Hiếu, Từ Đàm, Báo Quốc trên đồi Hàm Long, và nhiều chùa khác) có lối vào dài dưới tán cây, vườn trồng thông, mít, cau, hoa, có giếng, có vườn tháp mộ các sư ở một góc. Kiến trúc nhà rường thấp, mái thoải hoà vào vườn cây chứ không nổi lên giữa làng như chùa Bắc. Đây cũng là tinh thần nhà vườn Huế nói chung.

Chùa Thiên Mụ bên sông Hương, với tháp Phước Duyên và đình chuông, là trường hợp nổi tiếng nhất, nhưng không đại diện cho kiểu chùa vườn trên đồi; những chùa nhỏ hơn mới cho thấy rõ nét nhà vườn.

Góc nhìn hôm nay: đến chùa Huế, nhìn gì

  1. Đếm mái chính điện: thấy hai nóc mái song song nối liền là nhà kép.
  2. Đi vòng ra sau chính điện (nếu được phép) để xem có sân thiên tỉnh và hai dãy nhà hai bên không. Có là bố cục chữ Khẩu.
  3. Đứng sau bình phong nhìn ra cổng: cảm nhận bình phong cắt tầm nhìn thế nào.
  4. Nhìn đầu đao: so với ảnh chùa Bắc Bộ, sẽ thấy mái Huế thấp và hiền hơn hẳn.
  5. Đi chậm ở lối vào: phần vườn cũng là phần kiến trúc.

Tuyến tham khảo: Từ Hiếu (hồ bán nguyệt, rừng thông), Báo Quốc (đồi Hàm Long), Diệu Đế (quốc tự bên sông Đông Ba, có gác chuông gác trống), Thiên Mụ (bên sông Hương). Nguồn đọc thêm: Đại Nam nhất thống chí phần Thừa Thiên có chép nhiều chùa Huế; tư liệu của cơ quan bảo tồn di sản cố đô Huế và ban quản lý các di tích. Nên đến vào buổi sáng, khi chùa yên tĩnh và nắng chưa gắt.

Câu hỏi thường gặp

Chùa Huế khác chùa Bắc như thế nào?

Chùa Huế thường bố cục chữ Khẩu quây quanh sân giữa, chính điện là nhà rường kiểu nhà kép, mái thoải với đầu đao vểnh nhẹ và trang trí khảm sành sứ. Chùa Bắc Bộ thường theo trục dọc kiểu chữ Đinh, chữ Công, mái dốc với đầu đao cong mạnh và nhiều tượng hơn. Chùa Huế cũng hay nằm trong vườn trên đồi thay vì giữa làng.

Nhà rường Huế là gì?

Nhà rường là kiểu nhà khung gỗ truyền thống của Huế, ráp mộng, dựng trên chân tảng, với các bộ phận chính là trính, xuyên, kèo và đòn tay. Kiểu phổ biến là ba gian hai chái. Chính điện nhiều chùa Huế làm theo kiểu nhà rường.

Trùng thiềm điệp ốc là gì?

Trùng thiềm điệp ốc là kiểu nhà kép: hai ngôi nhà đặt sát nhau trên cùng một nền, nối mái bằng máng xối chung. Kiểu này phổ biến ở cung điện và chính điện các chùa lớn ở Huế. Nó giúp lòng nhà rộng mà mái không phải quá cao.

Vì sao chùa Huế có hồ bán nguyệt?

Hồ bán nguyệt là nét quen thuộc của kiến trúc Huế, gặp cả ở cung đình, lăng tẩm và chùa. Hồ tạo cảnh quan, giữ nước cho vườn và phản chiếu hình cổng chùa. Chùa Từ Hiếu là ví dụ tiêu biểu với hồ bán nguyệt trước tam quan.

Bình phong trước chùa để làm gì?

Bình phong là bức tường đứng riêng chắn tầm nhìn thẳng từ cổng vào chính điện. Theo quan niệm xưa, nó ngăn khí xấu đi thẳng vào; về kiến trúc, nó tạo nhịp dừng trước khi vào sân. Mặt bình phong thường đắp long mã, hổ hoặc khảm sành sứ.

Mở app Chùa Chiền

Chùa Việt 3D — đi, ngồi, lạy cùng người thật

Mở app Chùa Chiền

Bài viết liên quan

Mở app Chùa Chiền

Chùa Việt 3D — đi, ngồi, lạy cùng người thật

Mở app Chùa Chiền Xem app khác