Hầu hết chùa cổ Việt Nam có hai tên: tên nôm dân quen gọi, thường lấy theo tên làng hay một đặc điểm dễ nhớ (chùa Dâu, chùa Mía, chùa Thầy), và tên chữ bằng chữ Hán khắc trên biển, trên bia (Diên Ứng tự, Sùng Nghiêm tự, Thiên Phúc tự). Muốn đọc bia, tra sử hay tìm tài liệu nghiên cứu về một ngôi chùa, phải biết tên chữ của nó — vì sách xưa và văn khắc gần như chỉ dùng tên chữ.
Bảng tên nôm – tên chữ của những chùa hay gặp
| Tên nôm (tên thường gọi) | Tên chữ | Ở đâu | Tên nôm từ đâu ra |
|---|---|---|---|
| Chùa Dâu | Diên Ứng tự (còn gọi Pháp Vân tự, Cổ Châu tự) | Thuận Thành, Bắc Ninh | Theo tên làng Dâu, vùng Luy Lâu xưa |
| Chùa Mía | Sùng Nghiêm tự | Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội | Theo tên làng Mía |
| Chùa Thầy | Thiên Phúc tự | Núi Sài Sơn, Quốc Oai cũ, Hà Nội | "Thầy" là thiền sư Từ Đạo Hạnh thời Lý |
| Chùa Tây Phương | Sùng Phúc tự | Núi Câu Lậu, Thạch Thất cũ, Hà Nội | Tên gọi theo cõi Tây Phương Cực Lạc |
| Chùa Bút Tháp | Ninh Phúc tự | Thuận Thành, Bắc Ninh | Theo tên làng Bút Tháp |
| Chùa Phật Tích | Vạn Phúc tự | Tiên Du cũ, Bắc Ninh | Theo tên đất Phật Tích (nghĩa là "dấu Phật") |
| Chùa Đậu | Thành Đạo tự | Thường Tín cũ, Hà Nội | Một trong chùa Tứ Pháp, thờ Pháp Vũ |
| Chùa Côn Sơn (chùa Hun) | Thiên Tư Phúc tự | Chí Linh, nay thuộc Hải Phòng | Theo núi Côn Sơn |
| Chùa Trăm Gian | Quảng Nghiêm tự | Chương Mỹ cũ, Hà Nội | Theo số gian nhà trong chùa |
| Chùa Một Cột | Diên Hựu tự | Ba Đình, Hà Nội | Theo kiến trúc đặt trên một cột |
| Chùa Láng | Chiêu Thiền tự | Đống Đa, Hà Nội | Theo làng Láng |
| Chùa Bộc | Sùng Phúc tự | Đống Đa, Hà Nội | Tên dân gian, có nhiều cách giải thích |
| Chùa Hoè Nhai | Hồng Phúc tự | Ba Đình, Hà Nội | Theo phố Hoè Nhai |
| Chùa Bà Đá | Linh Quang tự | Hoàn Kiếm, Hà Nội | Theo truyền thuyết pho tượng đá |
| Chùa Keo | Thần Quang tự | Vũ Thư cũ, Thái Bình cũ, nay thuộc Hưng Yên | Theo làng Keo |
| Chùa Bổ Đà | Tứ Ân tự | Việt Yên cũ, Bắc Giang cũ, nay thuộc Bắc Ninh | Theo núi Bổ Đà (Phổ Đà) |
| Chùa Ông Núi | Linh Phong tự | Núi Bà, Bình Định cũ, nay thuộc Gia Lai | "Ông Núi" là thiền sư Tịnh Giác |
| Chùa Gò | Phụng Sơn tự | Quận 11 cũ, TP.HCM | Chùa dựng trên một gò đất |
Ghi chú: địa danh trong bảng ghi theo vùng quen gọi; "cũ" là tên đơn vị trước đợt sắp xếp hành chính tháng 7/2025. Những chùa trong bảng mà có bài riêng trong wiki thì đọc bài đó để biết thêm.
Tên nôm hình thành thế nào
Tên nôm là tên của lời nói, do dân đặt và giữ. Có mấy kiểu chính:
- Theo tên làng: chùa Dâu, chùa Láng, chùa Mía, chùa Keo. Đây là kiểu phổ biến nhất ở Bắc Bộ — chùa làng mang tên làng. Chùa Keo có chuyện riêng: theo tư liệu địa phương, làng Keo cũ ven sông bị lụt lớn đầu thế kỷ 17, dân chia ra hai nơi, mỗi bên dựng một chùa Keo, nên nay có chùa Keo ở Thái Bình cũ và chùa Keo Hành Thiện ở Nam Định cũ.
- Theo người: chùa Thầy (thiền sư Từ Đạo Hạnh), chùa Ông Núi (thiền sư Tịnh Giác ở trên núi), chùa Bà Đanh.
- Theo đặc điểm kiến trúc hay cảnh vật: chùa Một Cột, chùa Trăm Gian, chùa Gò.
- Theo vật lạ hay con vật: ở Nam Bộ có chùa Dơi (Mahatup), chùa Chén Kiểu (Sà Lôn), chùa Hang (Kompông Chrây) — người Việt gọi chùa Khmer theo cái mình thấy, còn người Khmer dùng tên Khmer gốc Pali.
Tên chữ được đặt thế nào
Tên chữ thường gồm hai chữ Hán mang ý tốt lành ghép với chữ tự. Có những chữ xuất hiện rất nhiều:
| Chữ | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Phúc 福 | phúc lành | Thiên Phúc, Sùng Phúc, Ninh Phúc, Vạn Phúc, Hồng Phúc |
| Nghiêm 嚴 | trang nghiêm | Sùng Nghiêm, Quảng Nghiêm, Vĩnh Nghiêm |
| Quang 光 | ánh sáng | Thần Quang, Linh Quang |
| Diên 延 | kéo dài (lâu bền) | Diên Ứng, Diên Hựu |
| Linh 靈 | linh thiêng | Linh Quang, Linh Phong, Linh Ứng |
| Sùng 崇 | tôn sùng | Sùng Nghiêm, Sùng Phúc |
Vì các chữ lặp nhiều như vậy, tên chữ trùng nhau là chuyện thường. Tây Phương và chùa Bộc cùng là Sùng Phúc tự; Đà Nẵng có ba chùa cùng tên Linh Ứng; cả nước có rất nhiều chùa Thiên Phúc, Phúc Long, Linh Quang. Vì thế, khi tra cứu, luôn ghép tên chữ với tên làng hay tên tỉnh.
Một chùa cũng có thể đổi tên chữ qua nhiều đời. Chùa Dâu từng mang các tên Cổ Châu, Pháp Vân, Diên Ứng; chùa Báo Quốc ở Huế có những giai đoạn mang tên khác trước khi tên Báo Quốc được dùng ổn định thời Nguyễn. Khi thấy trên hai tấm bia cùng chùa ghi hai tên khác nhau, đừng vội nghĩ mình nhầm chùa.
Tìm tên chữ ở đâu khi đứng trong chùa
- Biển ngạch trên tam quan hoặc gian giữa tiền đường. Biển cổ đọc từ phải sang trái; chữ cuối là 寺 (tự). Biển mới hay viết chữ quốc ngữ bên dưới.
- Trán bia. Phần trên cùng của tấm bia thường khắc tên bia, ví dụ "… tự bi" (bia chùa …) hoặc "trùng tu … tự bi" (bia trùng tu chùa …).
- Chuông. Minh văn trên chuông thường mở đầu bằng tên chùa và tên làng, kèm niên hiệu năm đúc.
- Biển giới thiệu di tích. Di tích đã xếp hạng có biển ghi tên di tích, thường kèm tên chữ, ngay ở cổng.
- Hỏi nhà chùa. Sư trụ trì hay người giữ chùa luôn biết tên chữ và thường có cả tài liệu in về lịch sử chùa.
Dùng tên chữ để đọc bia, tìm sử
Có tên chữ rồi, mới mở được các kho tư liệu lớn:
- Đại Việt sử ký toàn thư và các bộ sử triều đại chép việc dựng chùa bằng tên chữ. Ví dụ chùa Diên Hựu (Một Cột) được chép dựng năm 1049 thời Lý Thái Tông.
- Đại Nam nhất thống chí (thời Nguyễn) liệt kê chùa quán theo từng tỉnh, dưới mục "tự quán", bằng tên chữ.
- Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép chùa vùng Gia Định xưa, tức Nam Bộ.
- Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm: hàng chục nghìn bản rập văn bia, chuông, khánh, tra được theo tên chùa, tên làng. Đây là nguồn để biết chùa làng mình có bao nhiêu tấm bia, dựng năm nào.
- Hồ sơ xếp hạng di tích của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các tỉnh: ghi tên chữ, niên đại, hiện vật.
Trên bia, năm dựng ghi bằng niên hiệu của vua (ví dụ "Chính Hoà", "Cảnh Hưng", "Minh Mệnh") kèm năm can chi. Gặp niên hiệu lạ, tra bảng niên hiệu các triều đại là ra năm dương lịch.
Những trường hợp dễ nhầm
Hai chùa cùng tên nôm
Chùa Đậu ở Thường Tín (Hà Nội) và chùa Đậu ở Thuận Thành (Bắc Ninh) là hai chùa khác nhau, dù cùng gắn với tục thờ Pháp Vũ trong hệ Tứ Pháp. Cũng vậy, chùa Keo có hai nơi. Luôn ghi kèm địa danh.
Tên chữ dịch sai thành tên nôm
Có người dịch tên chữ ra nghĩa tiếng Việt rồi gọi như tên riêng. Tên chữ là tên riêng, nên giữ nguyên âm Hán Việt khi tra cứu.
Tên Khmer nhiều cách phiên
Tên chùa Khmer có nhiều cách viết bằng chữ Latinh (Mahatup, Mã Tộc…). Tra cứu nên thử cả tên Khmer, tên Việt chính thức và tên dân gian.
Góc nhìn hôm nay: một việc nhỏ nên làm
Lần tới đến một ngôi chùa, hãy chụp lại ba thứ: biển ngạch, trán bia và tấm biển giới thiệu di tích. Về nhà, gõ tên chữ kèm tên làng vào ô tìm kiếm của thư viện số Viện Nghiên cứu Hán Nôm hay thư viện tỉnh; nhiều khi sẽ tìm được bản dịch văn bia kể chuyện ai góp ruộng, ai đúc chuông cho chính ngôi chùa đó. Với người làng, đây là cách nhanh nhất để biết chùa làng mình có từ bao giờ.
Câu hỏi thường gặp
Tên chữ của chùa Dâu là gì?
Chùa Dâu có tên chữ là Diên Ứng tự, còn được gọi là Pháp Vân tự hay Cổ Châu tự. Chùa ở Thuận Thành, Bắc Ninh, thuộc vùng Luy Lâu xưa. Tên "Dâu" là tên nôm theo làng Dâu.
Chùa Mía tên chữ là gì?
Chùa Mía ở làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội) có tên chữ là Sùng Nghiêm tự. Tên "Mía" là tên nôm theo làng. Các tư liệu Hán Nôm về chùa đều ghi bằng tên chữ này.
Làm sao biết tên chữ của một ngôi chùa?
Đọc biển ngạch trên cổng hoặc tiền đường, trán bia, minh văn trên chuông, hoặc biển giới thiệu di tích. Cách chắc nhất là hỏi sư trụ trì hay người giữ chùa. Biển chữ Hán cổ đọc từ phải sang trái, chữ cuối là "tự".
Vì sao nhiều chùa trùng tên chữ?
Tên chữ ghép từ những chữ tốt lành như Phúc, Nghiêm, Quang, Linh nên rất dễ trùng. Ví dụ chùa Tây Phương và chùa Bộc cùng có tên Sùng Phúc tự. Khi tra cứu phải ghép tên chữ với tên làng hoặc tên tỉnh.
Chùa Thầy tên chữ là gì?
Chùa Thầy có tên chữ là Thiên Phúc tự, nằm dưới chân núi Sài Sơn, Hà Nội. Tên "Thầy" để chỉ thiền sư Từ Đạo Hạnh thời Lý, người gắn với ngôi chùa.