Trên mái chùa Việt, phần được trang trí nhiều nhất là bờ nóc, đường gờ chạy dọc đỉnh mái. Giữa bờ nóc thường là hai con rồng chầu vào một mặt trời (lưỡng long chầu nhật), một bánh xe pháp luân, chữ Vạn hoặc bầu hồ lô; hai đầu bờ nóc là đầu kìm, hình đầu rồng há miệng ngậm lấy bờ; dọc các bờ chảy xuống có nghê, lân, phượng, cá chép. Mỗi con giống có lớp nghĩa biểu tượng riêng, và nhiều chi tiết cũng có lý do kỹ thuật: khối đắp nặng giữ ngói nóc khỏi gió lật.
Các bộ phận trên mái có tên gọi
| Vị trí | Tên gọi | Hay đắp gì |
|---|---|---|
| Đường gờ trên đỉnh mái | Bờ nóc | Gạch hoa, ô trang trí, ở giữa là đề tài chính |
| Chính giữa bờ nóc | Điểm nhấn trung tâm | Lưỡng long chầu nhật, pháp luân, chữ Vạn, hồ lô, tháp nhỏ |
| Hai đầu bờ nóc | Đầu kìm, con sô | Đầu rồng ngậm bờ nóc, hoặc khối cuộn xoắn |
| Các gờ chạy xuống theo mái | Bờ dải, bờ chảy | Nghê, lân, rồng nhỏ đắp nổi |
| Góc mái cong lên | Đầu đao | Rồng hoá từ lá cuốn, phượng |
| Mặt tường đầu hồi | Đầu hồi | Hổ phù, dơi, hoa văn, chữ thọ |
Giữa bờ nóc: đề tài chính
Lưỡng long chầu nhật
Hai con rồng đối xứng, đầu quay vào giữa, chầu về một hình tròn có tua lửa toả ra, đó là mặt trời. Đây là đề tài hay gặp nhất trên mái chùa và đình Bắc Bộ thế kỷ 19. Rồng trong văn hoá nông nghiệp gắn với nước, mưa thuận gió hoà; mặt trời gắn với ánh sáng. Ở chùa, nhiều người giải thích thêm mặt trời là ánh sáng trí tuệ của Phật pháp, nhưng đó là cách đọc về sau, còn đề tài này vốn dùng chung cho cả đình, đền, cung điện.
Biến thể: lưỡng long chầu nguyệt (chầu mặt trăng, thường là hình tròn không có tia lửa hoặc có hình liềm), và lưỡng long tranh châu (hai rồng tranh viên ngọc), đề tài rất phổ biến ở chùa Nam Bộ và chùa người Hoa.
Pháp luân
Pháp luân là bánh xe có tám nan, biểu tượng giáo pháp của Đức Phật được "chuyển" đi khắp nơi; tám nan thường được giải thích là Bát chính đạo (tám con đường đúng trong giáo lý). Pháp luân là biểu tượng thuần Phật giáo, không dùng ở đình hay đền. Trên mái các chùa trùng tu trong thế kỷ 20 trở lại đây, pháp luân xuất hiện ngày càng nhiều, có khi thay hẳn mặt trời giữa đôi rồng. Thấy pháp luân trên nóc là dấu hiệu khá chắc đây là chùa, không phải đình hay đền.
Chữ Vạn, hồ lô, tháp nhỏ
- Chữ Vạn (卍): ký hiệu cát tường lâu đời trong Phật giáo, hay đắp giữa bờ nóc hoặc trên đầu hồi.
- Hồ lô (bầu rượu): hình quả bầu hai múi đặt giữa nóc, rất phổ biến ở mái Huế, cả cung đình lẫn chùa. Hồ lô có gốc Đạo giáo, thường được giải thích là bình chứa khí thiêng.
- Tháp nhỏ hoặc búp sen: có ở một số chùa, nhất là trên mái gác chuông hay mái các am nhỏ.
Hai đầu bờ nóc: đầu kìm và con sô
Đầu kìm là hình đầu rồng (có khi là đầu cá kình) đắp ở mỗi đầu bờ nóc, miệng há rộng như đang ngậm, kìm chặt lấy bờ nóc. Đây là chỗ bờ nóc gặp mái đầu hồi, chỗ ngói hay bị gió lật và nước hay thấm. Một khối vữa nặng đắp ở đó giữ ngói và che mối nối, nên đầu kìm vừa là trang trí, vừa là lớp bịt kỹ thuật.
Con sô là khối đắp cuộn xoắn như đuôi mây hay cuốn thư, đặt ở đầu bờ nóc thay cho đầu kìm, phổ biến ở đình chùa Bắc Bộ thế kỷ 19. Nhiều chùa có cả hai: con sô ở đầu bờ nóc, đầu rồng ở đầu bờ dải.
Các con giống dọc bờ dải và đầu đao
| Con giống | Nhận ra thế nào | Nghĩa thường được giải thích |
|---|---|---|
| Rồng (long) | Thân dài uốn khúc, vảy, bờm, râu | Nước, mưa thuận, quyền uy, sức sống |
| Lân (kỳ lân) | Đầu to, sừng, thân có vảy, đuôi xoè | Điềm lành, che chở |
| Phượng | Chim đuôi dài, cánh xoè, thường ở đỉnh hoặc đầu đao | Điềm lành, vẻ đẹp |
| Rùa (quy) | Thường đội bia ở sân hơn là trên mái | Trường tồn |
| Nghê | Con vật nhỏ ngồi, giống chó hoặc lân, lông xoắn | Canh giữ; đây là con vật riêng của mỹ thuật Việt |
| Cá chép hoá rồng | Đầu rồng, thân và đuôi cá, đuôi vểnh lên | Vượt khó để đổi khác, đỗ đạt |
| Dơi | Cánh xoè, thường ở đầu hồi, cửa võng | Phúc (chữ "bức" là con dơi đọc đồng âm với chữ "phúc" trong tiếng Hán) |
Rồng, lân, rùa, phượng gộp lại là tứ linh, bộ đề tài chung của kiến trúc tôn giáo và cung đình. Ở đầu đao, rồng thường không đắp nguyên con mà "hoá" từ một chiếc lá cuốn lên, mép lá biến thành bờm rồng, gọi là đao lá hoá rồng.
Mái chùa ba miền trang trí khác nhau thế nào
- Bắc Bộ: trang trí bằng vữa đắp, gạch hoa, có nơi gắn mảnh sành. Bờ nóc thường xây gạch với những ô thủng hình hoa bốn cánh (gạch hoa chanh), nhìn từ xa thấy nhẹ, gió lùa qua được. Màu chủ đạo là màu vữa và ngói, ít sắc màu.
- Huế: rất nổi bật với lối khảm sành sứ: mảnh chén, bát, đĩa men xanh trắng được cắt và gắn lên rồng, phượng, hồ lô trên nóc. Nhìn trong nắng, mái lấp lánh. Hồ lô và lưỡng long là đề tài hay gặp.
- Nam Bộ và chùa người Hoa: mái nhiều màu, có khi gắn cả những cụm tượng gốm men màu tả cảnh tích truyện, lưỡng long tranh châu, cá chép. Chùa Khmer lại có hệ biểu tượng khác hẳn (rắn Naga, chim thần Krud), không dùng lưỡng long.
Ở thời Lý – Trần, khảo cổ học đã tìm được nhiều mảnh trang trí mái bằng đất nung hình đầu rồng, phượng, lá đề ở các phế tích chùa tháp. Như vậy truyền thống đắp con giống trên mái đã có từ rất sớm, chỉ là vật liệu và kiểu dáng thay đổi qua từng thời.
Vì sao lại đặt con giống trên mái
Có ba lý do chồng lên nhau, không loại trừ nhau:
- Kỹ thuật: bờ nóc, bờ dải và đầu kìm là những chỗ ngói gặp nhau, dễ dột và dễ bị gió lật. Một gờ vữa nặng đắp lên giữ ngói và bịt mối nối. Trang trí là cách làm cho lớp bịt ấy đẹp.
- Biểu tượng: các con vật canh giữ (nghê, lân, hổ phù), con vật cầu mưa thuận (rồng), biểu tượng giáo pháp (pháp luân, chữ Vạn) gửi gắm điều người dựng chùa mong muốn.
- Nhận diện: mái là thứ nhìn thấy từ xa nhất. Một pháp luân trên nóc cho người đi đường biết đây là chùa; đôi rồng chầu cho biết đây là công trình thờ tự quan trọng của làng.
Góc nhìn hôm nay: đọc mái từ dưới sân
- Đứng chéo góc sân, không đứng thẳng trước mặt tiền: góc chéo cho thấy cả bờ nóc, đầu kìm và một đầu đao cùng lúc.
- Nhìn giữa nóc trước: mặt trời hay pháp luân? Pháp luân thường gợi ý lần sửa mái gần đây hơn.
- So mái tam quan, gác chuông và tiền đường: cùng một chùa nhưng mỗi toà có thể sửa vào một thời, nên trang trí mái mỗi toà một khác. Đó là cách nhanh để thấy lớp thời gian.
- Mang ống nhòm nhỏ hoặc dùng chế độ zoom của máy ảnh để xem các con nghê trên bờ dải; đó là những tác phẩm nhỏ, mỗi con một dáng.
- Muốn thấy khảm sành sứ, nên xem mái các chùa và lăng ở Huế vào buổi sáng có nắng xiên.
Bài này chỉ bàn trang trí và biểu tượng. Còn đường cong của mái và đầu đao, cũng như các loại ngói, là những đề tài kỹ thuật riêng.
Câu hỏi thường gặp
Lưỡng long chầu nhật là gì?
Lưỡng long chầu nhật là đề tài trang trí hai con rồng đối xứng chầu vào một mặt trời ở giữa, thường đắp trên bờ nóc mái chùa, đình, đền. Rồng gắn với nước và mưa thuận, mặt trời gắn với ánh sáng. Biến thể có lưỡng long chầu nguyệt (mặt trăng) và lưỡng long tranh châu (viên ngọc).
Bánh xe trên nóc chùa có ý nghĩa gì?
Đó là pháp luân, bánh xe tám nan tượng trưng giáo pháp của Đức Phật, tám nan thường được giải thích là Bát chính đạo. Pháp luân là biểu tượng riêng của Phật giáo. Trên mái các chùa trùng tu gần đây, pháp luân thường thay vị trí mặt trời giữa đôi rồng.
Đầu kìm trên mái chùa là gì?
Đầu kìm là hình đầu rồng hoặc đầu cá đắp ở hai đầu bờ nóc, miệng há như đang ngậm chặt bờ nóc. Nó vừa trang trí vừa che mối nối dễ dột giữa bờ nóc và mái đầu hồi. Một số chùa dùng con sô, khối đắp cuộn xoắn, thay cho đầu kìm.
Làm sao phân biệt mái chùa với mái đình?
Dấu hiệu dễ nhất là biểu tượng Phật giáo trên nóc như pháp luân, chữ Vạn hay búp sen; đình làng không dùng các biểu tượng này. Đôi rồng chầu mặt trời thì dùng chung cho cả đình và chùa. Nên kết hợp thêm với bố cục và cách thờ bên trong để chắc chắn.
Vì sao mái chùa Huế lấp lánh?
Vì mái chùa và cung điện Huế hay trang trí bằng lối khảm sành sứ: mảnh chén, bát, đĩa men được cắt và gắn lên hình rồng, phượng, hồ lô. Dưới nắng, các mảnh men phản chiếu ánh sáng. Lối trang trí này ít gặp ở chùa Bắc Bộ.